Sử liệu và giáo dục lịch sử

Sử dụng phương tiện nào để suy ngẫm về sử liệu

Cái tên sử liệu không phải là đã xuất hiện ngay từ đầu. Chúng ta khi muốn điều tra, tìm hiểu điều gì đó về lịch sử sẽ muốn sử dụng di vật nào đó của quá khứ để làm đầu mối  giải mã khi đó “sử  liệu” sẽ xuất hiện.

Nghiên cứu quá khứ  từ trước đến nay được tiền hành bởi các sử gia vì vậy cái nào là sử liệu, cái nào không đều do sử gia quyết định. Các sử gia Đông Á chủ yếu viết về chính sử vì vậy các ghi chép văn thư chính trị trở thành sử liệu trung tâm. Ở châu Âu, từ thế kỉ 19 nghiên cứu lịch sử  nghiên cứu lịch sử trở thành khoa học và do nó gắn bó với các động thái của chủ nghĩa dân tộc cho nên nghiên cứu lịch sử quốc gia, lịch sử chính trị là trung tâm và nhà sử học đã coi trọng các tư liệu thành văn như là sử liệu duy nhất.

Tác phẩm “quần thư loại tùng” của Hanawa Hokiichi xuất bản vào khoảng nửa cuối thế kỉ 18 là tập sử liệu tiêu biểu của Nhật Bản nhưng cũng gần như đồng thời các tập tư liệu bằng chữ viết khổng lồ cũng được biên soạn như “Garia và tập sử liệu chữ viết của Pháp” (Pháp), “Các vật kỉ niệm có tính chất lịch sử của người Giéc-manh” (Đức).

Các sử liệu này  đã làm phát triển kiểu nghiên cứu lịch sử lấy trục là phê phán sử liệu dựa trên các văn bản cổ, ghi chép cổ gọi là sử học thực chứng Đức. Phương pháp này sau đó đã phổ biến rộng ra Nhật Bản và thế  giới vào nửa sau thế kỉ 19 và kết quả là chủ nghĩa coi trọng sử liệu thành văn đã được coi trọng trên khắp thế giới cho đến nửa sau thế kỉ 20.

Sự ra đời của sử liệu mới

Trái ngược với tình hình trên, sự cần thiết của nghiên cứu lịch sử dựa vào sử liệu phi chữ viết đã được đề xướng vào cuối thế kỉ 19 bởi các học giả người Pháp nhưng phải đến nửa sau thập niên 60 cuả thế kỉ 20 thế giới mới thừa nhận điều đó. Nghiên cứu lịch sử dạng này gọi là lịch sử xã hội và các nhà sử học trên thế giới bắt đầu chú ý đến nó. Ở Nhật Bản những nghiên cứu này bắt đầu nở rộ vào đầu thập niên 70.

Các nhà sử học hiện tại dưới tác động của những ảnh hưởng này đã có mối quan tâm tới  việc làm rõ  cuộc sống con người, tâm lý, tình hình thực tế của đời sống hàng ngày, bên cạnh sử liệu thành văn đã khai quật mạnh mẽ các khu cư trú, đồ gia dụng, các vật phẩm dùng hàng ngày (tư liệu hiện vật), tranh vẽ, điêu khắc, ảnh (sử liệu hình ảnh), truyền thuyết, thần thoại, câu chuyện dân gian (tư liệu truyền miệng), lễ hội, dân ca, phỏng vấn (tư liệu âm thanh) và tạo nên lịch sử học mới dựa trên chúng.

Yanagida Kunio đã sử dụng sử liệu phi văn tự dưới cái tên “Dân tục học” và hiện nay nó đã trở thành một thông lệ trong nghiên cứu lịch sử xã hội.

 

Vị trí của sử liệu trong giáo dục lịch sử

Giáo dục lịch sử trong trường học bị tác động bởi động thái trong nghiên cứu lịch sử, cứ khoảng 10 đến 20 năm nó sẽ lại tiếp nhận ảnh hưởng đó.

Sự gia tăng của ảnh, tranh, bản đồ, niên biểu-các sử liệu phi văn tự trong sách giáo khoa và tập sử liệu từ thập niên 90 trở đi đã chứng minh điều này. Điều này chắc chắn sẽ làm thay đổi bản thân giáo dục lịch sử nhưng hiện tại nó đang đình trệ.

Lý do là kì thi lịch sử mà đỉnh điểm là kì thi vào đại học giống như trước đó vẫn chỉ là kiểu kiểm tra lượng tri thức đồng thời kiểu giờ học lịch sử không thoát khỏi kiểu giờ học tri thức lịch sử dựa trên sử liệu thành văn. Giờ học lịch sử dựa trên sử liệu có tên “sự chuyển đổi Paradim trong lớp học” đang đặt ra.

Giờ học lịch sử, giống như cách nói “kĩ năng hay sự kiện”, có thể phân chia ra thành hai kiểu: giờ học dạy học sinh làm thế nào để có được tri thức muốn biết về quá khứ và giờ học  dạy học sinh tri thức. Để sử dụng sống động sử liệu thì cần phải tiến hành kiểu giờ học thứ nhất và dạy cho học sinh kĩ năng. Nói một cách khác cần phải chuyển giáo dục lịch sử sang “giáo dục lịch sử với tư cách là sự tái trải nghiệm công việc của nhà sử học” và cần phải có “giáo dục lịch sử giáo dục các nhà sử học trẻ”.

 

Giáo dục sử liệu từ giờ trở đi.

“Giáo dục lịch sử với tư cách là kĩ năng” trước đó đã được sử dụng rộng rãi ở các nước Âu Mĩ như là một biện pháp và đối với các học sinh Nhật Bản từ giờ trở đi phải sống trong môi trường quốc tế hóa cũng trở thành “công cụ tri thức để tồn tại”.

Giáo dục lịch sử từ trước đến nay  do sử dụng sách giáo khoa được phê phán một cách nghiêm cẩn nên đã dẫn tới kiểu giáo dục  lấy “sách giáo khoa tuyệt đối không thể sai” làm tiền đề. Tuy nhiên đối với học sinh sống trong xã hội internet thì với tư cách là kĩ năng không thể thiếu, việc phê phán xem các sử liệu văn bản, sử liệu hình ảnh đến từ internet là chính xác hay không là việc cần làm đầu tiên. Phê phán sử liệu và các năng lực tương đương là thứ đang đặt ra đối với xã hội từ giờ trở đi. Vì vậy, “giáo dục lịch sử với tư cách là giờ học kĩ năng” trở thành thứ không thể thiếu.

Thêm nữa, “giáo dục lịch sử với tư cách là giờ học kĩ năng” còn có thể biến việc đưa lịch sử hiện đại trở thành đối tượng trong lịch sử trường học thành thực tế. Đây là phần còn thiếu nhất trong giáo dục lịch sử Nhật Bản. Trong giáo dục lịch sử ở các nước ngoài Nhật Bản, sự tập trung dồn vào thế kỉ 20. Đặc biệt lịch sử từ sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991 đã trở thành chủ đề lịch sử quan trọng nhất trong trường học.

Sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản hiện tại là một kiểu biến thái của chính sử cho nên nội dung của sách giáo khoa chị ảnh hưởng của cái nhìn quốc gia và kiến giải chính thống về lịch sử hiện đại trở thành bất khả. Về lịch sử hiện đại nếu như biên soạn giáo tài với tư cách là thành tố tạo nên từ sử liệu thay cho sách giáo khoa thì không chỉ vấn đề nói trên được giải quyết mà giờ học lịch sử hiện đại cũng không còn là thứ bất khả.

Đối với thanh niên Nhật Bản, những người sẽ tiến bước ra xã hội quốc tế, việc không có cơ hội học các tri thức lịch sử hiện đại trong trường học là một sự bất hạnh lớn và đây là vấn đề mà giáo dục lịch sử Nhật Bản phải giải quyết.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gysosei, 2000)