Sử dụng bảo tàng

 

 Sử dụng bảo tàng trong bản Hướng dẫn học tập

Trong Hướng dẫn học tập ở trường tiểu học, trung học cơ sở, việc ghi chép về sử dụng bảo tàng trở nên rõ ràng bắt đầu từ bản năm 1989 trở đi. Ở môn Xã hội tiểu học, bản Hướng dẫn học tập viết : “Khi chế tác kế hoạch chỉ đạo, cần chú ý sử dụng các bảo tàng và phòng tư liệu ở địa phương đồn thời tiến hành quan sát, điều tra khu vực gần gũi, các di tích và di sản văn hóa, trên cơ sở đó tiến hành các hoạt động biểu hiện”. Trong lĩnh vực lịch sử thuộc môn Xã hội ở trường THCS, bản Hướng dẫn học tập cũng chỉ ra việc sử dụng bảo tàng, phòng tư liệu ở địa phương khi tiến hành các nội dung liên quan tới văn hóa đời sống. Ở trường THPT, trong cuốn “Giải thích Hướng dẫn học tập” xuất bản năm 1978, nội dung “lịch sử và văn hóa xã hội địa phương” trong “Lịch sử Nhật Bản” đã được thay thế bằng sử dụng bảo tàng, phòng tư liệu địa phương và bản năm 1989 cũng đề cập đến nó. Tất cả những dẫn chứng nói trên đều được dẫn ra khi tiến hành các nội dung  liên quan đến lịch sử.

Trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1998 (bản dành cho THPT được sửa năm 1999), ghi chép về sử dụng bảo tàng từ cấp tiểu học, THCS đến THPT đã được bổ sung đầy đủ. Thêm nữa ở tiểu học, không chỉ giới hạn trong  lịch sử mà ở các nội dung học tập khác, việc sử dụng bảo tàng cũng được chú ý. Xu hướng này có thể nói là biểu hiện rõ ràng của tính chất giáo dục môn Xã hội với tư cách như là một bộ phận của học tập suốt đời.

 Chủng loại và chức năng của bảo tàng

Bảo tàng có rất nhiều hình thái đa dạng. Theo “Thông cáo thư điều tra giáo dục xã hội năm Heisei thứ 8″ của Bộ giáo dục, tính đến thời điểm ngày 1 tháng 10 năm 1996 (năm Heisei thứ 8) số bảo tàng và các cơ sở tương đương bảo tàng được xác định bởi Luật bảo tàng là 985, các cơ sở khác hoạt động giống như bảo tàng nhưng không nằm trong quy định là 3.522. Tính chung hai loại là 4.507. Sự phân bố các bảo tàng, cơ sở này cho dù có sự không đồng đều ít nhiều nhưng nhìn chung là trải khắp 47 đô, đạo, phủ, tỉnh. Trong vòng 10 năm qua số lượng bảo tàng đã tăng gấp đôi. Có thể thấy, môi trường sử dụng bảo tàng đã được cải thiện hơn so với trước đó. Trong bản thông cáo thư này đã chia thành 9 loại bảo tàng căn cứ vào việc thu thập, bảo quản và trưng bày: bảo tàng tổng hợp, bảo tàng khoa học, bảo tàng lịch sử, bảo tàng mĩ thuật, bảo tàng dã ngoại, vườn thú, vườn thực vật, vườn động-thực vật, bảo tàng biển. Nếu tính theo loại thì bảo tàng lịch sử chiếm số lượng nhiều nhất (57.8%), tiếp theo là bảo tàng mĩ thuật (18.7%), bảo tàng khoa học (8.5%).

Chức năng chủ yếu của bảo tàng nằm ở ba công việc: thu thập, bảo quản tư liệu; điều tra, nghiên cứu tư liệu; tiến hành hoạt động phổ cập giáo dục thông qua tư liệu. Trong đó, ở hoạt động phổ cập giáo dục tư liệu, các hoạt động thử nghiệm dưới hình thức “trải nghiệm-tham gia” được tiến hành thường xuyên có thể được coi là một đặc trưng trong những năm gần đây. Ví dụ như:

(1) thiết lập phòng học tập trải nghiệm và cho khách đến bảo tàng tiếp xúc, sử dụng tư liệu.

(2) Làm phong phú phòng tư liệu thông tin, tiến hành trợ giúp tùy theo nhu cầu tư vấn học tập của khách.

(3) Cùng lập kế hoạch điều tra địa phương và xây dựng phòng học trải nghiệm với người dân địa phương, thử nghiệm tiến hành nó với tư cách như là một hoạt động của địa phương đó.

Hình thái và phương pháp sử dụng bảo tàng.

Từ giờ về sau để  sử dụng bảo tàng mỗi cách tích cực trong môn Xã hội, việc chú ý đến các hình thái sử dụng đa dạng rất quan trọng. Tùy theo địa điểm học tập (ở bảo tàng hay trường lớp) và người chỉ đạo (giáo viên hay nhân viên bảo tàng) mà có thể phân chia hình thái sử dụng thành 4 loại:

(1) Hình thái giáo viên tiến hành giờ học ở trường sử dụng tư liệu mượn từ bảo tàng.

(2) Hình thái nhân viên bảo tàng mang tư liệu đến trường và tiến hành giờ học

(3) HÌnh thái giáo viên dẫn học sinh đến bảo tàng và tiến hành giờ học trước các tư liệu ở đó.

(4) Hình thái nhân viên bảo tàng tiến hành giờ học trước các học sinh được dẫn tới bảo tàng (bao gồm cả trường học cá nhân học sinh đến bảo tàng).

Xét từ quan điểm đặt hình thái và phương pháp sử dụng bảo tàng trong quá trình học tập, người ta cũng có thể chia ra  làm 4 hình thái sau:

(1) Hình thái sử dụng nhằm phát hiện vấn đề học tập ở bước dẫn nhập của tangen

(2) Hình thái sử dụng nhằm tìm kiếm sự thực trong giai đoạn truy tìm của tangen.

(3) HÌnh thái sử dụng nhằm xác nhận kết quả truy tìm trong giai đoạn kết thúc tangen.

(4) HÌnh thái khuyến khích việc sử dụng bảo tàng đối với học sinh khi tangen kết thúc.

Tuy nhiên ở trường hợp nào cũng vậy, việc làm cho học sinh có được mục đích sử dụng rõ ràng từ mối quan hệ với vấn đề học tập của tangen và triển khai hoạt động học tập là điều vô cùng quan trọng.

 

Sử dụng bảo tàng nhìn từ học tập suốt đời

Trong trường hợp nhìn mục đích sử dụng bảo tàng trong trường học từ quan điểm học tập suốt đời, thì điểm chú ý sau rất quan trọng. Đó là việc giáo dục cho học sinh niềm yêu thích bảo tàng trong suốt cuộc đời và tạo ra nơi học tập có mối liên hệ với hoạt động sáng tạo văn hóa, cuộc sống cùng người lớn. Về điểm này, ở đây sẽ trình bày một chút về “dung hợp xã hội và trường học”, “Ecomuseum” như là xu hướng mới của việc sử dụng bảo tàng trong những năm gần đây.

“Dung hợp xã hội và trường học” là việc chia sẻ một bộ phận chung giữa giáo dục trường học và giáo dục xã hội, tạo ra các hoạt động giáo dục cho cả hai. Trong sự dung hợp xã hội và trường học thì sự dung hợp giữa trường học và bảo tảng là một ví dụ. Trường học  sẽ tiến hành các giờ học ở phòng học tập trải nghiệm do bảo tàng thiết lập. “Eco-Museum” là loại bảo tàng mới được xây dựng lần đầu tiên tại vào thập niên 70. Ở Nhật nó được dịch thành “Bảo tàng đời sống-môi trường”. Đặc trưng của nó là trong sự vận hành có sự tham gia của người dân địa phương và là bảo tàng dã ngoại theo kiểu hướng về địa phương với phạm vi nhất định. Cho dù là trường hợp nào đi nữa, chúng cũng đềulà thử nghiệm hướng tới bảo tàng theo mô hình sáng tạo đời sống-văn hóa được đưa vào dưới cái nhìn học tập suốt đời.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)