Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (phần cuối)


Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

 

5. Sự phức tạp hóa sự chú ý đối với sách giáo khoa và sự chi tiết hóa ghi chép

 

Giống như trên đã trình bày, khi so sánh sự trần thuật lịch sử của Nhật và Mĩ ta có thể nhận ra một điểm chung giữa  hai trường hợp trên. Đó là sự nảy sinh sự phức tạp hóa sự chú ý đối với quá trình biên soạn SGK – nơi thể hiện sự chồng lấn của phong trào phản kháng đối với giáo dục lịch sử theo quan điểm nhất nguyên, sự giao lưu của con người phức tạp với hoạt động không phụ thuộc vào khu vực và tác dụng tạo ra từ chúng. Trước hết ở trường hợp nước Mĩ, phong trào đòi thay đổi giáo dục lịch sử lấy tiền đề là sự khác biệt trong các giai cấp của các tập đoàn tạo nên dân tộc đã tồn tại với tư cách như là một bộ phận của phong trào đòi quyền công dân. Tuy nhiên, việc triển khai nó trên phạm vi toàn quốc và đem lại tính liên tục cho khuynh hướng sửa đổi nội dung giáo dục lại là sự thay đổi cơ cấu dân số lưu động do sự thay đổi của Luật di dân năm 1965 và  từ đó làm nảy sinh động thái esthnic revival. Và rồi ở cả trường hợp của Nhật Bản sau khi triển khai giao lưu với các nước châu Á,cùng với sự gia tăng lưu thông vật chất và con người  động thái của phía tác giả muốn đưa vào SGK thông tin lịch sử về  các vùng đất đó mạnh lên. Trước động thái này bộ giáo dục thực hiện chế độ kiểm định nhưng  cơ cấu của nó đã được công khai hóa do vụ kiện của Ienaga trước đó. Thêm nữa do các phương tiện truyền thông có liên quan đến quốc tế cho nên khả năng công khai chúng càng trở nên mạnh mẽ.

Kết quả của những động thái đó là  khả năng thay đổi các tri thức giáo dục tăng lên ở từng cấp độ. Sự thống trị của dân tộc trở thành “xương sống” của  xã hội dân tộc. Việc truyền tải và làm cho cùng sở hữu các biểu tượng, truyền thuyết, thần thoại, giá trị ra bên ngoài nhóm người đó là sự lý giải dân tộc của Antony Smiths. Giáo dục lịch sử trước đó quả thật là phương tiện nhằm truyền tải và tạo ra sự sở hữu chung này. Tuy nhiện, trong thời đại mà chương này bàn tới,  quá trình biên soạn SGK đã vươn tay tới cả những người nằm ngoài sự tồn tại mang tính xương sống của xã hội dân tộc. Sự trần thuật lịch sử diễn ra trong môi trường đã biến đổi như thế để nắm được tính đa diện của các hiện tượng và lập trường của con người đã sử dụng quan điểm mang tính đa góc độ. Hình thức giải thích mang tính nhất nguyên nhằm duy trì và tán thưởng quá khứ của sự tồn tại tính xương sống của xã hội dân tộc  đã bị tương đối hóa và thông tin được đăng tải trong SGK bắt đầu thể hiện các yếu tố tạo nên dân tộc được cụ thể hóa cả về chất là lượng. Quá trình toàn cầu hóa với tư cách là hoạt động “phi khu vực hóa” của con người đã tạo nên ảnh hưởng đối với lịch sử được kể trong SGK và điều này có thể thấy rõ trong SGK của Nhật và Mĩ.

Tuy nhiên, điều quan trọng là ngay cả ở đây, cơ cấu trần thuật lịch sử dân tộc tức là “Lịch sử Nhật Bản” , “Lịch sử nước Mĩ” không phải là bị ném bỏ. Việc đưa vào SGK hoạt động của người Mĩ gốc Phi trong thời kì chiến tranh giành độc lập và những trải nghiệm của người Mĩ gốc Nhật đã mở rộng hàm ý “America”.  Và nữa, việc ghi chép chi tiết về Triều Tiên dưới thời thuộc địa là một bộ phận nằm trong việc thể hiện chi tiết những việc làm của “Nhật Bản”. Để thực hiện được chủ nghĩa công dân toàn cầu theo trường phái David Held được nêu ra ở mục 2 chương này thì cần phải nuôi dưỡng Identity vượt ra khỏi biên giới quốc gia và do đó thì lịch sử cần phải né tránh dựa trên căn cứ là quốc gia hay khu vực hóa. Mặt khác, giáo dục lịch sử ở Nhật và Mĩ được đưa ra bàn thảo trong chương này chỉ dừng lại ở “lịch sử dân tộc” như vẫn thường thấy và nếu như gọi thứ bỏ đi bản thân cơ cấu dựa trên nguyên lý dân tộc là “post-national history” thì giáo dục lịch sử Nhật, Mĩ vào thập niên 90 không nằm trong phạm vi này.

Tuy nhiên, trong nội bộ  chế độ “lịch sử dân tộc đó” , khi chúng ta chú ý đến giá trị lưu thông cụ thể, ví dụ như  có thể thấy trong các ghi chép chi tiết về “cuộc sống của người gốc Nhật ở các trại thu dung” hay “thảm sát số lượng lớn những người dân thường bởi bom nguyên tử” các giá trị được truyền tải thông qua SGK lịch sử thập niên 90 không phải là thứ áp dụng cho một quốc gia-dân tộc hay một nhóm người cụ thể nào. Câu chuyện đó là sự chồng lấn của chi chép về cá nhân con người, ghi chép  về quốc gia, ghi chép về giá trị mang tính phổ biến. Ở ý nghĩa đó, tính cần thiết của cơ cấu dựa trên nguyên lý dân tộc trong SGK lịch sử thập kỉ 90 đã trở nên bị tương đối hóa trong các cơ cấu khác. Cho dù dựa trên hình thức giáo dục lịch sử dân tộc đi nữa thì việc  bắt đầu sử dụng các sự việc có thể lý giải khi đứng trên thuộc tính chung  khác biệt với nguyên lý dân tộc  có thể nói là đặc trưng quan trọng nhất  của sự trần thuật lịch sử của thời đại toàn cầu hóa.

6. Sự biến đổi của lịch sử dân tộc và lô-gic của thống nhất dân tộc.

Ảnh hưởng đối với giáo dục lịch sử dân tộc trong thời toàn cầu hóa đã đem đến đặc trưng nào đối với lô-gic của sự thống nhất dân tộc được thể hiện trong SGK lịch sử sau thời kì chuyển đổi? Trong chương này nhằm giải quyết câu hỏi này, chúng tôi sẽ chỉ ra sự khác nhau gữa cái nhìn theo chủ nghĩa công dân thế giới quy nhất về cộng đồng mang tính quốc gia thế giới với cái nhìn  song hành của cộng đồng phức hợp. Từ đó thiết lập  cơ cấu xem xét xem SGK lịch sử với tư cách là thứ đảm nhận tái sản xuất dân tộc đã chỉ ra tính phương hướng như thế nào ở điểm đối lập này.

Giống như trước đó đã trình bày, trong SGK lịch sử đã trải qua quá trình phức tạp hóa cái nhìn khi trần thuật lịch sử và sự chi tiết hóa nội dung ghi chép dưới tác động của toàn cầu hóa,  cách kể tán dương, nuôi dưỡng một tập đoàn người nhất định mặc dù được tránh né nhưng hình thức giáo dục lịch sử dân tộc vẫn được tiếp tục. Tuy nhiên dưới nền tảng là hình thức này, tình trạng cá biệt của con người hay giá trị thích hợp trong không gian rộng hơn quốc gia dân tộc đã được trình bày.  Việc lý giải kiểu trần thuật như thế thể hiện ở giáo dục lịch sử của Mĩ và Nhật Bản vào cuối thế kỉ XX cũng trở nên cần thiết khi suy ngẫm về chế độ xã hội quốc gia-dân tộc từ giờ về sau. Từ đó tính cộng đồng dựa trên nguyên lý dân tộc trong các cá nhân đã được đặt song hành với tính cộng đồng khác biệt có tính phức hợp và từ sự phức hợp của ý thức quy thuộc và ý thức trách nhiệm mà thể hiện tính khả năng của sự hình thành  identity của các cá nhân. Vì vậy, chương này suy luận về cơ cấu của chủ nghĩa công dân thế giới không có quốc gia thế giới do John Tomlinson chỉ ra dã được chỉ ra ở đây.

Đương nhiên, tác nghiệp ở trong chương này  chỉ là sự xem xét giới hạn trong giáo dục lịch sử, yếu tố quyết định nên dạng thức tồn tại của dân tộc một khi vẫn có vô số ở bên ngoài trường học thì việc nhấn mạnh duy nhất tính phương hướng tương lai được chỉ ra ở đây là việc làm nguy hiểm xét về mặt lô-gic. Tuy nhiên, giống như chúng tôi đã vừa trích dẫn Anderson vừa chỉ ra ở mục 1 chương này,  SGK lịch sử  thông qua hệ thống trường học hiện đại  mà tạo ra ảnh hưởng đối với các thành viên của dân tộc và là công cụ làm cho những người này duy trì và bảo tồn quốc gia dân tộc. Do vậy, nội dung được đưa ra trong đó làm rõ sự thay đổi và do đó  việc luận bàn về tính phương hướng  từ giờ trở đi  thì thứ công cụ này ít nhất vẫn là thứ thích hợp ở mức độ nào đó trong sự đóng góp vào tái sản xuất dân tộc.Và nữa việc xác định sự thay đổi về chất của kiểu trần thuật trong SGK nửa sau thế kỉ XX cho dù là sự giả định với tư cách là chủ đề tác nghiệp phân tích một cách tổng hợp các yếu tố quyết định nên dạng thức thống nhất mọi người thì nó cũng trở thành việc xác định phiến diện cứ điểm  phân tích.

 

Hết