Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (5)

Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

 

Lịch sử được chi tiết hóa

Ý thức về sự ghi chép lịch sử được truyền đạt trong giáo dục trường học được thừa nhận công khai thông qua bộ lọc nhất nguyên gọi là kiểm định của Bộ giáo dục nhưng đến thập niên 80 bộ lọc nhất nguyên này đã rơi vào tình huống phải tiếp nhận sự phức tạp hóa. Đương nhiên, một trong những vấn đề thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước là sự biện hộ cho lợi ích dựa trên trên nguyên lý dân tộc. Tuy nhiên, với tư cách là kết quả của sự va đập giữa các ý kiến khác nhau đã làm phát sinh khuynh hướng thông tin về một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó được chi tiết hóa và gia tăng về lượng. Và rồi dưới tác động của tình trạng này, sự công nhận một chiều giá trị trung tâm của dân tộc trở nên rất khó khăn. Duyên cớ xuất hiện điều này là sự thay đổi  ghi chép liên quan đến lịch sử quan hệ Nhật-Hàn. Nhật Bản với tư cách là quốc gia hiện đại khi kết giao quan hệ với nước khác thì điều đầu tiên đối tượng nhắm đến là bán đảo Triều Tiên, nơi có vị trí địa lý gần với Nhật Bản nhất. Vì vậy, ngay cả trong SGK ngay sau  phần ghi chép về Minh Trị duy tân là phần ghi chép về  lịch sử ngoại giao của Triều Tiên. Tuy nhiên, tại thời điểm thập niên 50, các ghi chép trong SGK rất đơn giản.

Sau Duy tân, Nhật Bản đã yêu cầu Triều Tiên mở cửa đất nước, trước sự Nam hạ, suy tính đến sự nguy hiểm của việc Triều Tiên bị đặt dưới sự cai trị của nước Thanh yếu ớt nên vào năm 1876 Nhật Bản đã kí với Triều Tiên hiệp ước Saimoppo nhằm biến Triều Tiên thành nước độc lập với nội dung Triều Tiên độc lập và mở cảng Busan. Từ đó trở đi mậu dịch của Nhật Bản  phát triển và độc chiếm thị trường Triều Tiên nhưng mặt khác thì Thanh từ năm 1880 trở đi đã phục hồi thị trường Triều Tiên và bầu không khí muốn phục hồi quyền tôn chủ mạnh lên,vấn đề này đã tạo nên sợi dây móc nối với sự tranh chấp ngôi vua trong hoàng gia Triều Tiên, cuối cùng quyền buôn bán của Nhật Bản bị loại bỏ khỏi Triều Tiên. Nhật Bản hoảng hốt nên nhân khi loạn đảng Đông học diễn ra đã giao chiến với Thanh. Trước quân đội Nhật hiện đại quân Thanh đã thể hiện rõ sự yếu ớt và bằng hiệp ước Shimoseki (Hạ Quan), Thanh đã phải nhượng cho Nhật Bản bán đảo Liêu Đông, Đài Loan và công nhận Triều Tiên độc lập. Cuối cùng Triều Tiên trở thành nước chịu sự bảo hộ của Nhật Bản  và rồi trở thành một bộ phận của đế quốc Nhật Bản và tiếp nhận sự thống trị này cho đến năm 1945”.

 

Đây là toàn bộ phần ghi chép về Triều Tiên hiện đại trong SGK “Lịch sử thế giới” năm 1951. Ở đây những sự việc liên quan đến Triều Tiên đã chỉ được đề cập tới như là thứ thứ yếu trong những ghi chép về quan hệ Nhật-Thanh. Lịch sử quan hệ ngoại giao Nhật-Hàn từ sau Minh Trị Duy tân cho đến 1945 đã được khái quát và thông tin chi tiết về giai đoạn Nhật mở rộng thế lực vào bán đảo Triều Tiên đã không được đưa ra. Từ đó về sau cho đến bản in thập niên 70 nhận thức lịch sử đối với nước láng giềng Triều Tiên về cơ bản đứng im ở trong tình trạng như thế.

Thông tin về  lịch sử quan hệ Nhật-Triều bắt đầu gia tăng nhanh chóng từ thập niên 80 trở đi đó là do mối quan hệ giữa hai nước trở nên hữu nghị. Mối quan hệ Nhật-Hàn hiện tại càng trở nên thân thiết thì quan hệ của Nhật-Triều trong quá khứ càng được kể một cách chi tiết. Do đó trong số các thông tin được gia tăng bao gồm cả cụm từ “tiến vào” đại lục của Nhật Bản. Với ý nghĩa đó, sự nổi giận kháng nghị từ phía Hàn Quốc đã bùng nổ vào năm 1982. Từ bản in năm 1983 sau đó, cụm từ “xâm lược đại lục” đã được sử dụng và sự ghi chép về lịch sử quan hệ Nhật-Triều đã được đưa vào các tiểu mục như “Triều Tiên khai quốc và Chiến tranh Nhật-Thanh”, “Chiến tranh Nhật Nga và sự sáp nhập của Triều Tiên vào Nhật Bản”. Về sự kiện đảo Ebana sách có ghi: “tàu chiến của Nhật Bản diễn tập ở bờ biển Triều Tiên” và nhấn mạnh các động thái từ phía Nhật và đối với sự kiện “Mùng 1 tháng 3” thì sách ghi: “rất nhiều người bị thương vong  do chịu sự đàn áp của quân đội Nhật và hiến binh”. Các thông tin được đưa vào từ quan điểm khác với kiểu truyền thống tán đồng, hoan hô, ủng hộ dân tộc.

Những sự ghi chép này đã được thêm vào vài chỗ sửa chữa trong bản in năm 1987 về cấu trúc, kí hiệu nhưng nó vẫn được tiếp tục kế thừa cho đến hết thập niên 80. Trong bản in năm 1989 đã thêm vào các đoạn ghi chép  về “Daiinkun”, “Binshi”…. Phần ghi chép về phong trào mùng 1 tháng 3 đã trở thành mục độc lập với tiểu mục “phong trào mùng 1 tháng 3 của Triều Tiên” và các thông tin về nội bộ Triều Tiên được đăng tải chi tiết. Thêm nữa, liên quan đến việc sáp nhập Triều Tiên còn có thêm các thông tin về “Hiệp ước Nhật-Hàn” hay “phong trào nghĩa binh chống Nhật”.

Bước vào thập niên 90, sự gia tăng lượng thông tin  được xúc tiến và nó tăng đến mức gấp 5 lần lượng thông tin trong bản in năm 1950. “Cuộc khởi nghĩa Hongyone” vốn được coi là “không cần thiết” trong lần kiểm định năm 1970 đã được viết một cách chi tiết và ghi chép về Daiinkun và Binshi cũng gia tăng và thông tin nội bộ của Triều Tiên thế kỉ XIX được ghi chép trong mối liên hệ với sự mở rộng thế lực của Nhật Bản. “Sự sáp nhập Nhật Bản-Hàn Quốc” vốn được ghi chép như là sự liên quan với chiến tranh Nhật-Nga trước đó đã được ghi thành một mục độc lập với tiểu mục được thêm vào và  giống như đoạn trích dưới đây, “Hiệp ước Nhật-Hàn” đã được tóm tắt từng mục để làm rõ quá trình Nhật Bản sáp nhập Hàn Quốc. Sự ghi chép này so với ghi chép trong SGK thập niên 50 với vỏn vẹn một dòng: “cuối cùng Triều Tiên trở thành nước được Nhật Bản bảo hộ rồi trở thành một bộ phận của đế quốc Nhật Bản và tiếp nhận sự thống trị này cho đến năm 1945” thì  có thể thấy sự chi tiết hóa thông tin đã rất tiến triển.

Từ trong cuộc chiến tranh Nhật-Nga, Nhật Bản đã kí ba lần Hiệp ước Nhật-Hàn ( 1904, 1905, 1907), và tăng cường thương thảo với Hàn Quốc. Đặc biệt trong Hiệp ước kí lần thứ 2, chính phủ Nhật đã cử một viên tổng đốc  trông coi công việc ngoại giao thay mặt chính phủ Nhật Bản ở Hàn Quốc, trong Hiệp ước lần thứ 3 đã thảo luận vấn đề nội chính và giải tán quân đội Hàn Quốc.  Trước sự giao thiệp với  Nhật Bản dân chúng Triều Tiên đã tiến hành mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống Nhật. Nhật Bản  đã dùng vũ lực đàn áp và sáp nhập Hàn Quốc vào lãnh thổ Nhật Bản và đặt Tổng đốc phủ Triều Tiên để cai trị[1].

 

Cả phần ghi chép về tình hình thực tế của thể chế cai trị của Nhật Bản cũng xuất hiện, đặc biệt phần viết về “phong trào đấu tranh của nghĩa binh chống Nhật” còn có ảnh minh họa và tình hình của phía bị cai trị cũng được miêu tả chi tiết: “tại Triều Tiên, trước nguy cơ của quốc gia, những người tự phát nổi dậy được gọi là nghĩa dũng và từ cuối thế kỉ 19 đến thế kỉ XX đã lặp đi lặp lại cuộc đấu tranh chống Nhật”. Thêm nữa, “Thay tên đổi họ” lần đầu tiên cũng được đề cập: “Từ sau chiến tranh Trung-Nhật sự cai trị  của Nhật Bản được tăng cường mạnh mẽ, chính sách đồng hóa tiêu biểu là bắt người Triều Tiên “thay tên đổi họ” theo kiểu Nhật đã được xúc tiến. Để bổ sung cho nguồn lao động của Nhật Bản bị thiếu hụt trong chiến tranh, ở Triều Tiên đã diễn ra sự di chuyển cưỡng bức người lao động và vào cuối chiến tranh còn tiến hành cả lệnh trưng binh”. Các thông tin về tình hình cai trị ở thuộc địa đã được đưa vào.

Sự gia tăng thông tin dạng này đã thể hiện rõ việc giáo dục lịch sử đang tách khỏi sự bảo vệ và duy trì tính chính thống của dân tộc. Tuy nhiên, ngay cả ở đây, cơ cấu trần thuật lịch sử với tư cách là lịch sử dân tộc đã tiếp tục được duy trì. Ban đầu trong ý kiến kiểm định cho đến đầu thập niên 80 thì Triều Tiên từ năm 1910 đến năm 1945 do là lãnh thổ của Nhật Bản nên “viết tách biệt giữa người Triều Tiên và người Trung Quốc” nhưng các thông tin liên quan đến quá trình cụ thể Triều Tiên bị hấp thụ vào Nhật Bản lại không được đưa ra. Tức là xuất hiện mâu thuẫn trong phần ghi chép của SGK. Trong phần ghi chép của bản in năm 1994 đã đưa ra một cách trực diện  tình hình thực tế quá trình “dân tộc hóa” thông qua “thay tên đổi họ”, “chính trị văn hóa”, lãnh thổ của Triều Tiên phụ thuộc vào Nhật Bản. Đây chẳng qua là sự biểu hiện của tình thình thực tế của xã hội từ quan điểm dựa trên cơ cấu lịch sử dân tộc mà thôi. Sự gia tăng thông tin có thể tiếp nhận một cách phê phán và khách quan đối với lịch sử dân tộc mình có thể nói là một hiện tượng. Sự  chi tiết hóa của ghi chép về lịch sử quan hệ Nhật-Hàn trong bản in năm 1994 mặc dù vẫn duy trì cơ cấu lịch sử dân tộc nhưng giá trị thể hiện bên trong đã được đa nguyên hóa là một ví dụ.

 

Cơ cấu lịch sử dân tộc và giá trị phổ biến

Sự trần thuật lịch sử một cách khách quan và phê phán không phải là việc chỉ ghi chép về quốc gia mình. Khi nhìn vào ghi chép về mối quan hệ giữa Nhật Bản và các nước chiến thắng có thể hiểu được điều này. Ví dụ như về “thiệt hại do bom nguyên tử” thì trong bản in năm 1951 chỉ có viết mấy dòng ngắn ngủi: “Ngày 6 tháng 8 năm 1945 bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima. Ngày mùng 9 quân Mĩ lại thả bom nguyên tử xuống Nagasaki”. Trong bản in năm 1957 bức ảnh chụp cột mây hình nấm lần đầu tiên xuất hiện nhưng đoạn văn thuyết minh thì không hề thay đổi và đến bản in năm 1964 thì có thêm vào một chút nhưng cho đến bản in năm 1973 thì các thông tin về sự thiệt hại đã không được đăng tải. Tuy nhiên, khuynh hướng tinh túy hóa phần ghi chép  của bản in năm 1983 trở đi đã thể hiện rõ ở nội dung này.

“Ngày 6 tháng 8 năm 1945, Mĩ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima… Ngày 9  quân Mĩ lại ném bom nguyên tử xuống Nagasaki…. (ảnh). Trong năm năm từ khi bị ném bom nguyên tử ở Hiroshima có khoảng trên 20 vạn, ở Nagasaki có khoảng trên 14 vạn người dân chết và hiện nay  vẫn còn rất nhiều người khổ sở vì di chứng nguyên tử. Ở các đô thị bị không kích khác cũng có hàng chục vạn người dân trở thành nạn nhân”.

Trong bản in năm 1983, liên quan đến con số nạn nhân lần đầu tiên thông tin cụ thể được đăng tải và nó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Tiếp nhận khuynh hướng này, vào thập niên 80 ý kiến kiểm định “xác nhận tư liệu về con số”

đã được đưa ra nhiều lần và sau nhiều lần kiểm chứng tư liệu đã dẫn tới kết quả là trong bản in năm 1984 các thông tin đã được đăng tải chi tiết. Và nữa bức ảnh đi kèm với các thông tin này từ bản năm 1983 đã có thêm khung cảnh của tòa nhà nguyên tử và vùng xung quanh và có thể nắm được tình trạng bị phá hủy của thành phố. Thực tế cái nhìn của phía bị hại đã được tiếp nhận và người ta có thể nắm được sự thật của sự kiện.

 

Mĩ đã ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki vào ngày mùng 6 và mùng 9 tháng 8 và phá hủy hai thành phố này. Do bom nguyên tử từ năm 1945 đến năm 1950 trải qua 5 năm, ở Hiroshima có trên 20 vạn người, ở Nagasaki có trên 14 vạn thường dân tử vong và đến nay vẫn còn rất nhiều người khổ sở vì di chứng nguyên tử” (ảnh). Ở vùng gần tâm nổ ở Hiroshima, số lượng đông đảo nạn nhân của bom nguyên tử và những người dân thường sau vụ nổ phải sống với phóng xạ đã trở thành vấn đề nhân đạo quốc tế. Bức ảnh là Tòa nhà khuyến nông của tỉnh Hiroshima nhìn từ trung tâm hội nghị của Hội công thương Hiroshima (tòa nhà nguyên tử”) (ảnh chụp tháng 12 năm 1945).

Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nhật Bản và Liên Xô cuối chiến tranh thế giới thứ hai  cũng tương tự. Trong bản in năm 1983 viết: “sau chiến tranh, Liên bang Xô Viết đã giam giữ trong một thời gian dài những người Nhật bị bắt làm tù binh ở Siberia và bắt họ phải lao động cưỡng bức khiến cho nhiều người chết” nhưng trong bản in năm 1994  sự ghi chép đã được thêm vào thành: “Liên Xô đã đưa 60 vạn người Nhật bị bắt giữ trong thời chiến đến Siberia và châu Âu=Liên Xô giam giữ trong một thời gian dài và bắt họ phải lao động cưỡng bức khiến cho nhiều người chết”.

Từ các ví dụ này có thể thấy sự chi tiết của thông tin ghi chép từ sau bản in năm 1983 đã tạo nên sự kể về tội ác của Nhật Bản ở châu Á đồng thời cũng đưa vào các thông tin liên quan đến việc Nhật Bản là nạn nhân. Ở đó những cấu trúc biểu hiện như “Thảm sát khổng lồ do bom nguyên tử”, “vấn đề nhân đạo lớn mang tầm quốc tế”, “bắt lao động cưỡng bức làm nhiều người chết”, các hiện tượng như “nạn nhân của bom nguyên tử”, “bị giam giữ cưỡng bức ở Siberia” đã diễn tả tính nhân văn. Vì vậy tác dụng của việc chi tiết hóa các ghi chép của SGK không phải chỉ là  việc gia tăng thông tin có tính phê phán đối với một tập đoàn người nào đó mà còn là thứ có tư cách là thứ tạo nên quan điểm bao hàm giá trị thích hợp mang tính phổ quát đối với những con người ở phạm vi rộng hơn.

 



[1] Tổng đốc đầu tiên là Ito Hirobumi (1841-1909)-người xúc tiến quá trình sáp nhập Triều Tiên đã bị An Trọng Căn ám sát tại Harubin (1879).