Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (4)




Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

“Dân tộc ” được tái định nghĩa

Sự biến đổi nói trên cũng có thể thấy tương tự ở sự ghi chép về các nhóm thiểu số khác. Ví dụ như liên quan đến các động thái của người da đen thời kì cách mạng giành độc lập trong SGK thập niên 80 đã xuất hiện liên tục như  nhân vật Crispus Attucks -người đã bị quân Anh giết trong vụ thảm sát Boston và bắt đầu nhấn mạnh sự cống hiến của người da đen đối với sự thành lập Hợp chúng quốc. Tuy nhiên, ở giai đoạn này thông tin về người da đen vẫn chỉ là thứ thêm thắt vào “lịch sử của người da trắng” và trong SGK thập niên 90 có thể chỉ ra sự biến đổi rõ hơn.

Trước hết, với tư cách là tiền đề của sự trần thuật của thập niên 90, sự cống hiến của người da đen đối với quá trình lập quốc đã được ghi chép.  Cái chết của Crispus Attucks với tư cách là chỉ huy của người Mĩ gốc Phi và người Mĩ bản địa”  đã được kể lại gắn với sự kiện Boston. James Amistead vốn là nô lệ của bang Virginia nhưng nhờ có cống hiến trong vai trò là điệp viên cài vào quân đội Anh mà được Hội nghị bang ban tặng tự do. Sự dũng cảm của các binh sĩ da đen là  thứ rất ấn tượng và được nhấn mạnh: “tại Road Island những người Mĩ gốc Phi đã tổ chức thành  đội quân người da đen”. Sự tồn tại của người da đen trong cuộc chiến tranh giành độc lập đã thẩm thấu sâu vào trong sự kể lại cuộc cách mạng giành độc lập như trên. SGK thập niên 90 có đặc trưng là dựa trên tiền đề như trên mà thể hiện sự diễn giải về sự đoán định và quan điểm đối với người da đen.

Khi chiến tranh bùng nổ, những người nô lệ  đã phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan. Việc tìm kiếm con đường nhằm thoát khỏi tình trạng nô lệ phụ thuộc suốt đời như thế nào là tốt nhất? Liệu có nên chiến đấu cùng với những ông chủ da trắng của họ không? Cho dẫu vậy đối với họ có nên chiến đấu không? Việc đưa ra lựa chọn đúng đắn ngay tức thời trở nên bỏ ngỏ và những người Mĩ gốc Phi đã đưa ra những quyết định khác nhau”.

Ở đây, quan điểm có tính nhất nguyên bao gồm lập trường của những người có vị trí trung tâm của xã hội dân tộc đã không được sử dụng. Trái lại, bằng việc xác nhận tình trạng của người Mĩ gốc Phi có thể nói sự ghi chép này  đã thoát ra khỏi thế giới quan mang tính giai cấp của người da trắng  đặt sự tồn tại của người da đen ở vị trí thấp kém.

Và rồi, nhiều SGK còn đề cập đến những người Mĩ gốc Phi không tham gia chiến đấu và những người tham gia vào phía bên nước Anh. Ví dụ như SGK xuất bản vào năm 1994 viết: “khi chiến tranh kết thúc, chính phủ mới của các bang đã trả tự do cho phần lớn các nô lệ đã tham gia chiến đấu. Tuy  nhiên,  số đông hơn những người Mĩ gốc Phi đã không tham gia chiến đấu. Vì vậy, phần lớn những người Mĩ gốc Phi khi chiến tranh kết thúc vẫn là nô lệ”. Liên quan đến sự đa dạng của các hành động của người Mĩ gốc Phi khi diễn ra cách mạng thì mối quan hệ giữa người da đen với với người Anh trong quân đội Anh, những người tham gia vào quân đội Anh sau chiến tranh đã có mặt ở các khu tự trị được xây dựng ở Tây Phi hay Canada và  những người da đen bị thu hút vào các bộ tộc người Mĩ bản địa đã được ghi chép với tư cách là tri thức. Ở đây, các hoạt động được triển khai bên trong và bên ngoài Hợp chúng quốc bởi những người Mĩ gốc Phi và những người bị phân loại  đã được miêu tả dựa trên sự phán đoán và quan điểm của chính bản thân họ.

 

Đối với những người Mĩ gốc Phi lời kêu gọi tìm kiếm tự do là thứ từ ngay trước khi cách mạng giành độc lập diễn ra đã thẩm thấu rất sâu. Sự tiếp diễn các cuộc phản kháng và nổi dậy của nô lệ trong suốt chục năm đã thể hiện rằng những người khai phá da đen không cần tới những lời lẽ cảm động của Samuel Adams hay Patrick Henry để nhận thức giá trị của tự do. Trái lại, đông đảo các nô lệ nghĩ cách mạng giành độc lập giống như là sự cuồng nhiệt có tính chất như căn bệnh truyền nhiễm hoặc nếu không thế thì nó cũng như chiến tranh đế quốc. Họ  coi đó như là một cơ hội tiềm năng để có được tự do cho mình. Giống như thế những người da đen tự do  cũng coi đây là cơ hội tốt để có được quyền công dân bị cự tuyệt từ trước năm 1776 và chớp lấy cách mạng giành độc lập. Những người Mĩ gốc Phi  trước khi có bản tuyên ngôn độc lập đã chỉ ra những mâu thuẫn ở bên trong phái cấp tiến của đại lục trước đó”.

 

Bằng việc sử dụng quan điểm của người Mĩ gốc Phi  ở đây hình ảnh cách mạng giành độc lập trở thành thứ phức hợp được tạo thành từ nhiều quan điểm. Dân tộc Mĩ được tái định nghĩa và trở thành thứ có nội dung ý nghĩa phong phú hơn. Đồng thời  ở hình ảnh lịch sử có tính nhất nguyên sử dụng duy nhất  quan điểm của người da trắng  thì không thể bao hàm hết được và những mâu thuẫn  có ở bên trong tư tưởng của người da trắng  đã nổi lên rõ ràng. Trong  số các SGK thập niên 90 hầu như  các sách đều có thái độ phê phán đối với  các mâu thuẫn giữa trật tự hiện thực do người da trắng lập nên ở đại lục sau cách mạng  và triết lý về chính nghĩa do người da trắng đề xướng.

Quan điểm nhìn từ nhiều  phía của SGK Mĩ thập niên 90 cũng giống như vậy  đã tạo ra lịch sử  bao hàm rộng lớn các hoạt động mang tính thể chất và tinh thần của nhóm thiểu số. Khi đó, cách kể lịch sử dựa trên căn cứ là cơ cấu  lịch sử dân tộc gọi là “lịch sử Mĩ” thực sự đã mở rộng bản thân hàm nghĩa “Mĩ”. Đồng thời với nó cần chú ý rằng định nghĩa về dân tộc trước đó đã được sửa chữa từ cái nhìn đa nguyên đang trở nên rõ ràng hơn.

 

4. Sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản từ nửa sau thế kỉ XX

 

Từ xã hội quốc dân đến xã hội quốc tế

Ở Nhật Bản cũng thế. Gần như cùng với sự sửa đổi Luật di dân của Mĩ cho dù không phải là sự cải cách căn bản đi nữa thì hiện tượng gọi là  “phi khu vực hóa” của các hoạt động con người như sự gia tăng dân số nhập cư và sự liên kết quốc tế của truyền thông đã nảy sinh vào khoảng thập niên 80. Thêm nữa, do sự phục hồi quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, bản thân sự thoát khỏi trạng thái cô lập  khỏi cộng đồng quốc tế sau thất bại trong chiến tranh  trở thành yếu tố quan trọng làm gia tăng hoạt động con người vượt qua biên giới quốc gia. Và rồi sự biến đổi này  đã đem đến sự phức tạp hóa quan điểm thấm đẫm trong nội dung và quá trình biên soạn SGK lịch sử Nhật Bản.

Hành chính giáo dục của Nhật Bản nửa sau thế kỉ XX đã sửa đổi chính sách xử lý bại chiến của GHQ và xuất bản  từ sự phục hồi tính tự chủ đối với nội dung giáo dục. Vì vậy, cả nội dung giáo dục cũng nhắm đến phục hồi sự trần thuật dựa trên nguyên lý dân tộc. Sau hiệp ước Sanfrancisco và sự thiết lập thể chế năm 1955, trong ý kiến kiểm định SGK của Bộ giáo dục năm 1957 trước đó đã nêu rõ mục tiêu giáo dục lịch sử là “nhận thức về nỗ lực của tổ tiên, nâng cao tự giác với tư cách là người Nhật, giáo dục tình yêu phong phú đối với dân tộc” và vào thập niên 60 theo các quan chức kiểm định SGK thì điều mong muốn là: “sách giáo khoa có khả năng trang bị cho bản thân học sinh lập trường tự chủ của quốc dân và đất nước một cách đúng đắn”. Dưới sự chỉ đạo của hành chính giáo dục như trên, SGK đã sửa chữa các cụm từ như cụm từ “đầu hàng vô điều kiện” trong chiến tranh thế giới thứ hai thành “đầu hàng”, xóa đi phần ghi chép thể  hiện sự “chuyên quyền độc đoán của quân đội” trong thời gian chiến tranh và ghi rõ “Etoro-Kunashiri vốn là lãnh thổ của Nhật Bản”. Cho đến cuối thập niên 60, SGK lịch sử  đã có đầy đủ các điều kiện cần thiết cần truyền tải như tính liên tục của chủ quyền, tính nhất thể của dân tộc, tính chính đáng của lãnh thổ quốc gia.  Và trong sự trần thuật lịch sử từ quan điểm dựa trên nguyên lý dân tộc này mà nảy sinh ý thức phân biệt dân tộc mà mình quy thuộc vào với dân tộc khác và tình cảm tán dương sự phát triển của nó. Trong SGK thập niên 60, 70, cụm từ “xâm lược” chỉ hành vi  chiến tranh của chủ nghĩa toàn trị đã được thay đổi và các từ miêu tả chính quyền quân phiệt Nhật ở Đông Nam Á như “bạo ngược”, sự “liều lĩnh” khi tham gia chiến tranh Thái Bình Dương đã bị cắt bỏ. Thay vào đó  là ghi chép  chiến thắng trong chiến tranh Nhật-Nga đã “tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đối với châu Á đang bị thực dân hóa và đóng vai trò làm trưởng thành tình cảm dân tộc của châu Á”. Trong sự kiện Nghĩa Hòa Đoàn thì sách viết: “lính Nhật là người hăng hái nhất”. SGK trong thời kì này ở điểm tán dương, bảo vệ dân tộc đã có cơ cấu thuyết minh nhất quán và hữu hiệu.

Tuy nhiên, ngay cả ở Nhật Bản nửa sau thế kỉ XX,  SGK lịch sử  đã phải đối mặt với tình huống không thể không tiếp nhận sự giám sát của xã hội. Thứ tạo nên nền móng của tình huống đó là vụ kiện của giáo sư Đại học giáo dục Tokyo –Ienaga Zaburo làm nảy sinh cuộc tranh luận về tính hợp pháp của chế độ kiểm định SGK. Trước việc SGK do mình biên soạn bị đánh trượt trong lần kiểm định năm 1957, 1963 và  sự bất lợi nảy sinh từ quyết định thông qua kiểm định kèm điều kiện năm 1964, Ienaga  quyết định khởi kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định hành chính và đòi nhà nước bồi thường dựa trên căn cứ cho rằng chế độ kiểm định SGK và quyết định xử lý kiểm định là vi phạm pháp luật. Từ  “phiên toà sách giáo khoa”-phiên tòa đầu tiên nổ ra năm 1965  đến phiên tòa tối cao lần thứ ba năm 1997, trải qua 32 năm tòa án đã trở thành nơi tranh luận về  nội dung và  dạng thức tồn tại của nền giáo dục. Tại tòa bên nguyên cáo đạt được rất ít các phán quyết có lợi cho mình, tuy nhiên,  ở điểm tại các phiên tòa những tiêu chuẩn phán quyết SGK kiểm định và các quy tắc nội bộ vốn chưa từng được công bố giờ đây được công khai thì vụ kiện đã đóng vai trò xã hội quan trọng.

Mặt khác, bằng sự thương thuyết về tiền bồi thường từ sau thập niên 50, quan hệ ngoại giao quốc gia với các nước Đông Nam Á đã được triển khai và  khi quan hệ với Trung Quốc và Hàn Quốc trở nên bình thường bằng Hiệp ước Nhật-Hàn năm 1965 và Tuyên ngôn chung Nhật-Trung năm 1972, hoạt động của quốc dân Nhật Bản đã gia tăng mối liên hệ với nước ngoài hòa cùng với  nó là sự dò dẫm  về cách thức sử dụng các nội dung, khái niệm và quan điểm mới trong giáo dục lịch sử. Từ cuối thập niên 70 cho đến đầu thập niên 80 phía các tác giả viết SGK và nhà xuất bản bắt đầu đưa ra các thuật ngữ mới nhằm ghi chép lịch sử và sự kiểm định của Bộ giáo dục đã  tăng cường cơ cấu dựa trên nguyên lý dân tộc nhằm thống nhất và kiểm soát chúng. Ví dụ như,  đối với các thuật như “Hongyone” trong lịch sử Triều Tiên và  “Phan Bội Châu” trong lịch sử Việt Nam, trong sự kiểm định giai đoạn này đã đưa ra ý kiến thay đổi là “không cần”, “không đưa vào những cụm từ nghe lạ lẫm”. Thêm nữa, về “vụ thảm sát Nam Kinh” thì đưa ra mệnh lệnh: “nên viết sao cho khi đọc sẽ hiểu là ngay sau khi chiếm đóng quân đội  đã muốn tiến hành thảm sát có tổ chức. Thời kì phát sinh thảm sát và tính tổ chức là không xác định được”, đối với việc “bắt cóc người Triều Tiên” thì “nên viết khu biệt người Trung Quốc với người Triều Tiên. Triều Tiên đương thời là lãnh thổ của Nhật Bản và là nơi áp dụng thích hợp với lệnh trưng binh quốc dân nên không thể nói là là cưỡng chế đưa người Triều Tiên đi được”.

Tuy nhiên, quá trình này đã làm dấy lên dư luận xã hội từ vụ kiện của Ienaga Zaburo, thêm nữa sau năm 1980 thông qua truyền thông xã hội, vấn đề này đã thu hút sự chú ý của quốc tế. Vào năm 1982 báo chí Nhật Bản  đã đưa tin về việc cụm từ “xâm lược” khi kiểm định chuyển thành “tiến vào” và rồi nó được báo chí Trung Quốc, Hàn Quốc đưa lại khiến nội dung kiểm định SGK của Nhật Bản trở thành vấn đề quốc tế. Thêm nữa, tiếp nhận điều này, Bộ giáo dục đã công khai một phần ý kiến kiểm định năm 1992, và các tác giả viết SGK thông qua các nhà xuất bản đã xúc tiến sự công khai các trường hợp kiểm định cho nên sự thực về kiểm định đã được công khai ngày một nhiều. Tình hình này đã được Takashima Nobuyoshi viết: “Nếu như là trước đó thì việc đòi hỏi công khai của Ienga Zaburo  bị làm ngơ như một sự miễn cưỡng thì từ thời điểm này trở đi rất đông các tác giả viết sách giáo khoa khác yêu cầu công bố sự thực kiểm định thì bộ giáo cục cũng không thể nói gì và tình trạng này kéo dài tới tận hôm nay. Không chỉ có các tác giả và biên tập viên đương thời, cả người dân thường và đôi khi là những người có liên quan đến các ghi chép đó và trong trường hợp nó trở thành vấn đề quốc tế thì có cả ý kiến của người trong và ngoài nước rất phong phú hướng về quá trình tiến hành kiểm định và tạo nên hiệu quả ngăn chặn sự quá đà của kiểm định”.

(còn tiếp)