Sách giáo khoa lịch sử Nhật- Mĩ và sự trần thuật lịch sử thời toàn cầu hóa (3)



Tác giả: Okamoto Tomochika

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Trích từ cuốn “Kiểu trần thuật và giáo dục lịch sử”,Watanabe Masako chủ biên, Sangensha, 2003)

3. Sách giáo khoa lịch sử của Mĩ nửa sau thế kỉ XX.

Ảnh hưởng của cải cách xã hội

Điều dễ dàng tưởng tượng một cách thông thường về giáo dục lịch sử của Mĩ là  do xã hội dân tộc là thể chế đa dân tộc cho nên nội dung giáo dục cũng khuyến khích sự lý giải đa diện các hiện tượng lịch sử. Tuy nhiên do tính đa dạng của văn hóa dân tộc trong xã hội hiện thực cho nên trái lại trong giáo dục lịch sử của Mĩ Identity mang tính nhất nguyên và rõ ràng được biểu hiện với tư cách là khái niệm được yêu cầu và từ thế kỉ XX trở đi vẫn như vậy. Tức là quan điểm lịch sử dựa trên chủ nghĩa đa văn hóa có được sức mạnh nhất định trong hệ thống giáo dục công là từ sau thập niên 60 trở đi, trước đó từ năm 1919 cho đến năm 1950 là thời kì Netivism gay gắt.

Nghiên cứu  của FitzGerald  Frances về phân tích nội dung SGK lịch sử của Mĩ-một công trình nghiên cứu lớn nhất về chủ đề này đã chứng minh cho sự lý giải này. Trong công trình nghiên cứu của bà các SGK lịch sử và xã hội được phát hành từ thế kỉ XIX đến năm 1970 và luận bàn về sự thay đổi giá trị quan có tính thống trị. Về SGK thập niên 40, bà cho rằng chúng coi trọng lịch sử chính trị và lịch sử hoạt động của chính phủ và ở đó bà chỉ ra rằng các cụm từ như “WE”, “OUR” xuất hiện liên tiếp. “Chúng ta” ở đây là nam giới thuộc tầng lớp trung lưu người da trắng trở lên và những người da đen, người bản xứ, người di dân được gọi là “họ” và trở thành thực thể tồn tại được đồng hóa với bên “chúng ta”. Lai lịch, tình trạng hiện tại, cống hiến xã hội của “họ” hầu như không được nhắc đến và  SGK chỉ đóng vai trò truyền đạt đạo đức tốt đẹp và giá trị của đàn ông da trắng. Xu hướng này vẫn được tiếp tục ở trong  SGK thập niên 50 và FitzGeral cho rằng đó là xu hướng nhất quán từ đầu tới cuối của SGK thập niên 50. Những SGK này với lý do bản thân đã hoàn chỉnh nên người ta cho rằng không cần phải thay đổi. Và tính chính thống này thể hiện tư duy “không còn có gì để phản biện không còn có gì phải nghi ngờ”.

Tuy nhiên, trong giới giáo dục thì sự biến đổi mạnh mẽ đã diễn ra từ thời điểm đó trở đi. Thứ dẫn tới điều đó là sự gia tăng của dư luận xã hội đối với  quá trình biên soạn và nội dung SGK. Ví dụ đầu tiên là phong trào với tư cách là một bộ phận của phong trào đòi quyền công dân diễn ra ở thành phố Detroit năm 1962. Đó là phong trào phê phán SGK lịch sử với quy mô lớn do Hiệp hội nâng cao địa vị của người da đen toàn Mĩ tiến hành. Phong trào này đã chỉ ra SGK của nhà xuất bản Reidoro-Brothers viết về chế độ nô lệ theo hướng tích cực và yêu cầu ủy ban giáo dục phải thu hồi các SGKđó khỏi trường học và đây là “lần đầu tiên trong lịch sử xuất bản có tiếng nói kháng nghị với quy mô lớn từ những người không phải là người da trắng và từ nhóm công dân thuộc phái tả”. Dưới tác động của phong trào, Ủy ban giáo dục đã quyết định thu hồi  SGK và bắt đầu tiến hành xem xét xem trong các cuốn SGK lịch sử đang sử dụng có tồn tại cái nhìn thiên kiến về chủng tộc hay không.

Về sau, phong trào thuộc loại này và sự đối phó của hành chính đã lan rộng sang các đô thị khác một cách nhanh chóng và điểm đáng chú ý là  việc sự triển khai này không phải chỉ là tình hình đa chủng tộc và thân thiện vốn đã tồn tại trong xã hội Mĩ trước đó mà nó còn là thứ được xúc tiến nhờ vào cải cách xã hội từ sau thập kỉ 60 trở đi. Đặc biệt sự sửa đổi Luật di dânvào năm 1965  đã chấm dứt chế độ phân bổ dân di cư theo từng nước xuất thân và mở rộng quy mô tiếp nhận dân di cư trong phạm vi tối đa là 12 vạn người đến từ tây bán cầu và 17 vạn người đến từ đông bán cầu bao gồm cả châu Á. Thêm nữa, Luật di dân này còn quy định sự ưu tiên đối với những người có gia đình sống ở Mĩ (đoàn tụ gia đình), những bác sĩ, nhà kĩ thuật hay người có năng lực đặc biệt và có cả sự tiếp nhận đặc biệt và thông thường với dân di cư vì thế mà số dân di cư vào Mĩ đến từ các nước Mĩ La tinh và châu Á tăng lên nhanh chóng.

Sự biến đổi cơ cấu dân số nhập cư này đã có tác động trực tiếp tới sự tuyển chọn SGK. SGK ở Mĩ được xuất bản tự do nhưng việc tuyển chọn SGK thì được quyết định theo “danh sách sách giáo khoa thích hợp” áp dụng với khoảng 20 bang và số trường còn lại thì được quyết định theo quy mô học khu. Đối với các nhà xuất bản thì họ không thể bán các phiên bản SGK khác nhau tương ứng với từng địa phương được vì thế mà họ phải tính toán làm sao để biên soạn ra sách có nội dung có thể bán được ở nhiều địa phương, nhiều bang khác nhau. Và khi ấy thì tiêu chuẩn giáo dục đối với các sự thật lịch sử được xác lập. Sự đồng thuận của dân tộc đối với trường hợp của nước Mĩ đã được sinh ra từ dưới lên trên như vậy. Ví dụ như ở các bang Florida, Texas, California sự quyết đinh “danh sách các sách giáo khoa thích hợp” được diễn ra theo quy mô bang và do ba bang này chiếm 25% thị trường sách giáo khoa toàn nước Mĩ cho nên nội dung SGK dễ phản ánh tình hình xã hội của các bang này và người ta chỉ ra đó là “hiệu quả California”, “hiệu quả Texas”. Những người dân di cư từ châu Á và Mĩ La tinh do sống chủ yếu ở các bang này cho nên sự đa văn hóa của xã hội và sự biến đổi của văn hóa sau khi Luật di dân được sửa đổi đã được phản ánh trong các tri thức của SGK thông qua “hiệu quả California”, “hiệu quả Texas”.

Kết quả là từ sau thập niên 70 dư luận đối với quá trình biên soạn SGK đã trở nên đa dạng hóa và  SGK cũng đã được biên soạn với quan điểm nắm chắc các hiện thực đa nguyên hóa. Theo sự phân tích nội dung SGK lịch sử của Nathan Grazer và Reed Ueda vào thập niên 70 thì quan điểm về sự trần thuật lịch sử trong SGK thời kì này như sau.

Sự ứng xử mới đối với sắc tộc trong SGK hiện tại là sự thay đổi từ sự ghi chép dựa trên nguyên lý  dân tộc đơn giản hay đơn nhất sang sự ghi chép đưa vào các nhóm đa dạng. Khi lịch sử của các nhóm sắc tộc khác nhau có sức mạnh đối với sự trần thuật lịch sử thì việc vẽ nên lịch sử từ cái nhìn dựa trên nguyên lý dân tộc bất biến hay đơn nhất trở thành không thể.

Sự dân tộc  hóa “sự tồn tại đặc biệt” và tiến tới sự thống nhất bằng khái niệm phổ biến.

Quan điểm nhất nguyên được sử dụng để trần thuật lịch sử trong SGK cho đến thập kỉ 50 trải qua thập kỉ 70 đã chuyển thành quan điểm phức hợp với các nhóm đa dạng. Điều này có thể thấy rõ qua tri thức lịch sử về người Mĩ gốc Nhật. SGK thập niên 60  rất ít khi đề cập đến người Mĩ gốc Nhật, trong số các SGK ít ỏi đó thì lại có xu hướng nhấn mạnh sự phân biệt giữa thiểu số và đa số lấy người da trắng làm trung tâm. Ví dụ như liên quan đến sự kiện vào năm 1906 có mệnh lệnh của trường học đưa ra nhằm cách ly trẻ em da trắng và trẻ em da vàng ở Sanfrancisco, SGK của một nhà xuất bản in năm 1964 đã thuyết minh về nguyên nhân là “đặc tính lao động của những người đến từ Nhật”.

Trong số các cư dân của California có người bắt đầu lo lắng về những người nhập cư gốc Nhật ở trong bang. Dân nhập cư gốc Nhật lao động với số tiền lương rất thấp vì vậy mà trong số những người lao động Mĩ có người đã cho rằng họ cướp mất công việc của mình”.

Ở đây sách lấy “đặc tính” “lao động với số tiền lương rất thấp” làm tiền đề và theo sau là kết quả tạo nên áp lực đối với người lao động da trắng dẫn tới người da trắng lo ngại đưa ra sắc lệnh. Sách đã nhấn mạnh đặc tính lao động giữa người da trắng có vị trí ở trung tâm xã hội và người Mĩ gốc Nhật có vị trí bên lề xã hội và thuyết minh về sự khác nhau đó trên lập trường của người da trắng. Thêm nữa, về việc cưỡng chế tập trung người Mĩ gốc Nhật trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai, trong phần ghi chép của SGK lịch sử thập niên 60 đã ghi chép về bản thân sự bức hại đối với người Nhật gốc Mĩ như là “sự kiện đặc biệt”.

Có một sự kiện quan trọng duy nhất gọi là sự xâm hại quyền lợi thông thường của người dân vì sự an toàn của quốc gia. Trong bối cảnh xã hội chao đảo sau cuộc tấn công Trân Châu cảng, hơn 10 vạn người Mĩ gốc Nhật đã bị đuổi khỏi các ngôi nhà của mình ở bờ biển Thái Bình Dương và bị đưa vào tập trung trong các trại do quân đội điều hành”.
Ở đây sự thu dung cưỡng chế có nguyên nhân là do vụ công kích Trân Châu Cảng và có vẻ nó được thuyết minh rằng nếu như không có sự công kích đó thì sự thu dung này đã không diễn ra. Việc chủ thể của sự vụ này là quân đội và chính phủ cùng chuyện nó là sự kéo dài của một chuỗi các vụ việc bài ngoại được tiến hành hàng ngày từ thời chiến tranh đã không được nhấn mạnh.

Tuy nhiên, dưới hình thức hòa trộn giữa phong trào đấu tranh đòi quyền công dân và  trào lưu xã hội “phục hưng dân tộc” sinh ra sau khi sửa đổi Luật di dân, cộng đồng người Mĩ gốc Nhật đã triển khai phong trào từ thập niên 70  đòi phục hồi sự tôn trọng và tự do bị xâm hại do sự thu dung cưỡng chế gây ra. Phong trào này ngoài mục đích đòi tiền bồi thường còn nhằm đưa sự phòng chống tái diễn sự xâm hại nhân quyền mà biểu tượng là sự thu dung cưỡng chế đối với người Mĩ gốc Nhật.  Giáo dục đã trải qua quá trình thảo luận của Ủy ban chuyên môn trong quốc hội năm 1981 và kết quả là “Luật công dân tự do” được ra đời vào năm 1988. Theo đó, những ghi chép về những trải nghiệm của người Mĩ gốc Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã được đưa vào SGK với số lượng ngày một nhiều từ nửa sau thập kỉ 80.

Trong đó quan trọng nhất là khuynh hướng cho rằng người Mĩ gốc Nhật thế hệ thứ hai là thành viên của dân tộc và có quyền bình đẳng với người chiếm đa số trong xã hội Mĩ mạnh lên. Thế hệ thứ nhất và thứ hai với lý do là người Mĩ gốc Nhật đã bị loại bỏ ra khỏi định nghĩa quốc dân cho đến thập kỉ 70. Tuy nhiên trong SGK thập kỉ 80 vẫn có sự ngăn cách giữa thế hệ thứ nhất và thứ hai, ví dụ như “2/3 trong số những người bị cưỡng chế di chuyển này là quốc dân Mĩ. Họ đã trở thành tù nhân ngay trong chính quốc gia của mình”. Ở đó nhấn mạnh thế hệ thứ hai có quyền công dân, nói được tiếng Anh, không chú ý đến nước Nhật tức là nhắc đi nhắc lại sự khác biệt giữa thế hệ thứ nhất và thứ hai. SGK thập kỉ 80 đã phân chia người Nhật gốc Mĩ bằng tư cách thành viên của quốc dân đồng thời nhấn mạnh lòng trung thành với tổ quốc của họ. Sách đã giới thiệu tên các đội quân cụ thể như “Đội chiến đấu cơ số 442”, “Đội bộ binh số 100”, “tư thế chiến đấu của các đội quân này rất dũng cảm và anh hùng đó là hành động theo lời thề “sẵn sàng quyết tử” của họ. Số người chết vì chiến đấu rất đông đảo. Trên 1700 người chết và có khoảng 5000 người bị thương. Và sách cũng thuyết minh rằng “họ là một trong số những đội quân nhận được nhiều huân chương nhất ở Mĩ”. Bằng việc nhấn mạnh lòng dũng cảm lần đầu tiên họ được coi là có vị trí bên trong lòng dân tộc  Mĩ.

Tuy nhiên, sự dao động của khái niệm dân tộc giống như trong SGK thập niên 80 này mặt khác cũng có mối liên kết với việc tạo nên quan điểm phê phán quá khứ nhắm đến xây dựng sự bình đẳng của xã hội công dân và điều này trở nên rõ ràng trong SGK thập niên 90. Căn cứ để chính thống hóa ghi chép khi ấy không phải là quyền lợi của dân tộc mà là định nghĩa xã hội công dân. Liên quan đến sự thu dung cưỡng chế sách ghi: “người Nhật và người Mĩ gốc Nhật đã phải đối mặt với sự phân biệt đối xử trong thời gian dài ở bờ biển phía tây. Sau trận Trân Châu cảng, tình trạng của họ càng trở nên tồi tệ hơn”. Thêm nữa, SGK thập niên 90 cũng ghi chép về sự phân biệt đối xử đối với người Mĩ gốc Á, Phi, Mĩ La tinh… và các trải nghiệm của người gốc Nhật cũng được đặt vào trong đó. Bên cạnh đó sự phân biệt đối xử trong thời chiến tranh này đã được tiếp tục cả trong thời bình. Ở đây thứ đã xúc tiến sự thu dung cưỡng chế không phải đơn giản chỉ là quân đội, chính phủ mà còn là áp lực của xã hội được tạo ra từ những người dân thường.

Trong ghi chép có tính phê phán đối với quá khứ này của SGK thập niên 90, có thể nói vượt lên trên “quyền lợi của dân tộc Mĩ” là thứ được coi trọng ở trên –khái niệm về nhân quyền có tính phổ biến. Nếu như chỉ thuyết minh về sự tước bỏ quyền lợi với tư cách là quốc dân thì giống như SGK thập niên 80  ví dụ như liên quan đến tình hình thực tế của các trại thu dung cưỡng chế thì chỉ cần ghi như sau là đủ “ở các trại thu dung, những người Nhật gốc Mĩ đã phải sinh hoạt trong hàng rào dây thép gai. Nơi ở thì tồi tàn”. Tuy nhiên thứ mà SGK thập niên 90 coi là vấn đề là sự chính nghĩa xã hội-đó là sự tước đoạt nhân quyền cơ bản đối với những người bị hại bao gồm cả thế hệ thứ nhất. Vì vậy, những trải nghiệm ở trại thu dung đã được ghi chép chi tiết tới từng chi tiết nhỏ của cuộc sống hàng ngày. Ví dụ như  SGK xuất bản năm 1999 đã ghi: “tất cả các gia đình đều được gắn biển số, tên gắn với hành lý, áo…không đượcghi mà chỉ có số”. Một phụ nữ trong cuốn sách “Từ ấy về sau” có viết: “chúng tôi dần dần bị gọi bởi số hiệu của gia đình là 10710”. Người phụ nữ cho biết thêm cùng với quá trình di chuyển trại cô đã mất đi cả identity của bản thân cùng cái riêng của bản thân mình.

(còn tiếp)