Quyết định ý chí hợp lý


1. Định nghĩa

Quyết định ý chí hợp lý là hoạt động lựa chọn, quyết định mang tính quyết đoán, hợp lý hơn trong số tất cả các phương án hành động (thủ đoạn, phương pháp) có khả năng thực hiện được nhằm đạt được mục tiêu, mục đích đề ra hoặc là tất cả các biện pháp  nghĩ ra được nhằm giải quyết vấn đề. Thêm nữa hoạt động này còn là lý luận giờ học với nguyên lý phương pháp giáo dục  phẩm chất công dân, mục  tiêu cao nhất của môn Xã hội.

 

Liên quan đến quyết định ý chí mang tính hợp lý,  ở Hợp chúng quốc Hoa Kì, với tư cách là nguyên lý phương pháp của môn Xã hội,  giáo dục phẩm chất công dân đã được đề xướng bởi  Engle, S.H, Metcalf, L.E, Oliver, D.W, Shaver, J.P, Masialas, B.G, Kaltsounis, T, Barth, J.L.  Ở Nhật Bản với tư cách là một trong những lý luận  giờ học môn Xã hội giáo dục phẩm chất công dân, mục tiêu cao nhất của môn Xã hội,  gần đây quyết định ý chí hợp lý cũng đặc biệt được chú ý.

 

2. Đặc trưng của lý luận giờ học

 

Đặc trưng của lý luận giờ học môn Xã hội lấy nguyên lý phương pháp là quyết định ý chí hợp lý gồm 3 điểm dưới đây:

 

Thứ nhất, với tư cách là  thứ tạo thành hạt nhân phẩm chất công dân, mục tiêu cao nhất của môn Xã hội, giáo dục năng lực  quyết định ý chí  mang tính hợp lý được coi trọng. Năng lực quyết định  ý chí hợp lý là năng lực lựa chọn, quyết định hành vi của bản thân trong tình huống có vấn đề  dựa trên nhận thức về sự thực mang tính khoa học và sự phán đoán giá trị dựa trên sự tính toán mang tính phản tỉnh và là thứ cần phải có ở người làm chủ với tư cách là người xây dựng nên xã hội-quốc gia dân chủ.

 

Thứ hai là việc chuẩn bị các vấn đề tranh luận mang tính xã hội với tư cách là tài liệu học tập. Đó là các vấn đề có khả năng làm phân rẽ sự phán đoán mà cá nhân, tập đoàn, tổ chức đối mặt và là vấn đề mang tính tranh cãi khi biện pháp giải quyết thay đổi theo quan điểm giá trị. Thêm nữa, các vấn đề tranh cãi mang tính xã hội được gọi là vấn đề xung đột giá trị, vấn đề tranh cãi giá trị, vấn đề xã hội lâu dài… Tuy nhiên nếu phân chia khái quát thì có thể chia ra thành hai loại là: vấn đề tranh cãi hiện tại và vấn đề tranh cãi có tính lịch sử. Ở vấn đề tranh cãi hiện tại thì điều đặt ra sẽ là “nên làm gì”, ở vấn đề tranh cãi mang tính lịch sử thì điều đặt ra sẽ là “điều gì lẽ ra nên làm”.

 

Thứ ba là việc tổ chức quá trình giờ học như là quá trình của quyết định ý chí hợp lý. Đó là quá trình như sau:

 

1. Nắm chắc vấn đề: nên làm gì, cách giải quyết nào được mong đợi hơn?”.

2. Phân tích vấn đề (làm rõ nguyên nhân): “tại sao lại phát sinh vấn đề đó?”

3. Làm rõ mục đích, mục tiêu cần đạt được: “bằng việc giải quyết vấn đề sẽ đạt được mục đích, mục tiêu nào?”

4. Đưa ra tất cả các phương án hành động (cách giải quyết): “với tư cách là phương án hành động (cách giải quyết) những điều gì được nghĩ ra?”.

5. Dự đoán  và đánh giá kết quả mang tính lô-gic của phương án hành động (phương án giải quyết): “giả sử như phương án này được thực hiện thì sẽ đem lại kết quả như thế nào?”.

REPORT THIS AD

6. Lựa chọn phương án hành động (cách giải quyết) và đưa ra căn cứ: “phương án hành động nào (cách giải quyết nào) được mong muốn hơn suy nghĩ từ mục đích, mục tiêu cần đạt được và kết quả mang tính lí luận (lô-gic) của phương án hành động”, “Tại sao lại phán đoán như vậy?”.

7. Hành động dựa trên sự quyết định: “tiến hành làm thử”.

 

3. Sự triển khai nghiên cứu lý luận giờ học.

 

Nghiên cứu về lý luận giờ học theo mô hình quyết định ý chí hợp lý ở nước ta được triển khai như dưới đây:

 

Thời kì thứ nhất là từ thập niên 70 đến thập niên 80, là thời kỳ du nhập lý luận của Hợp chúng quốc Hoa Kì. Trong thời kì này lý luận của Engle, S.H, Metcalf, L.E, Oliver, D.W, Shaver, J.P, Masialas, B.G, Kaltsounis, T, Barth, J.L đã được dịch và giới thiệu.

 

Thời kì thứ hai, từ thập niên 80 đến đầu thập niên 90, là thời kì học tập quyết định ý chí hợp lý mô hình Nhật Bản được hình thành. Trong thời kì này học tập được hình thành này có “giờ  học nhắm đến phẩm chất công dân” (Kato Yukitsugu),  “Học tập giáo dục phẩm chất công dân” (Kobara Tomoyuki), “Học tập giải quyết vấn đề mới” (Imatani Nobushige), “Học tập quyết định ý chí mang tính hợp lý” (Iwata Kazuhiko), “Môn xã hội đề xuất” (Onishi Tadao).

 

Thời kì thứ 3, từ thập niên 90 trở đi, là thời kì thực tiễn của học tập ý chí quyết định hợp lý. Gần đây,  có rất nhiều dạng học tập phong phú với các thực tiễn coi trọng quá trình tâm lý quyết định ý chí hay thực tiễn coi trọng sự hình thành đồng thuận.

 

4. Ý nghĩa hiện nay của học tập quyết định ý chí mang tính hợp lý.

 

Ý nghĩa ngày nay của học tập môn Xã hội coi trọng quyết định ý chí mang tính hợp lý có thể được chỉ ra ở hai điểm sau:

 

Thứ nhất, năng lực quyết định ý chí mang tính hợp lý được giáo dục nhờ vào học tập được coi trọng với tư cách là năng lực, phẩm chất cần có của công dân sống trong thời đại ngày nay. Các vấn đề mà xã hội hiện đại đang đối mặt như: quốc tế hóa, thông tin hóa, dân số già hóa, môi trường địa cầu xấu đi hoặc là các vấn đề dự đoán sẽ phải đối mặt hầu hết được giải quyết tùy theo quan điểm giá trị, vì vậy giải quyết hợp lý sẽ trở thành vấn đề khó khăn. Đối với các vấn đề như thế việc phán đoán hợp lý, từng người tiến hành lựa chọn, quyết định sẽ đặc biệt trở nên cần thiết đối với người làm chủ của xã hội dân chủ sống trong thời đại từ giờ về sau.

 

Thứ hai, “cách quyết định ý chí” có được nhờ vào học tập quyết định ý chí hợp lý được đặt ra như là  nền tảng của học tập suốt đời. Trong học tập môn Xã hội ở thời đại học tập suốt đời thì việc giáo dục năng lực trở thành nền tảng, cơ sở để học tập liên tục suốt đời là cần thiết. Thứ trở thành trung tâm của năng lực đó có lẽ sẽ là “năng lực, phẩm chất tự mình tìm kiếm vấn đề, tự mình học tập, tự mình suy nghĩ, phán đoán và hành động một cách chủ thể để giải quyết vấn đề tốt hơn”. Năng lực có thể đưa ra quyết định ý chí hợp lý đối với các vấn đề xã hội là một trong những năng lực nền tảng của học tập suốt đời.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000).

 


Cũ hơn Mới hơn