Quốc tế hóa và giáo dục công dân

Nhận thức “quốc tế hóa” và ý thức vấn đề

Ngày nay về “quốc tế hóa” có hai cách hiểu. Một là cách hiểu “quốc tế hóa” được nắm bắt bằng mối quan hệ giữa quốc gia với quốc gia với tiền đề là xã hội quốc tế trong vai trò là dạng tập hợp của quốc gia có chủ quyền (internationalization). Cách thứ hai là “quốc tế hóa” với tư cách là “toàn cầu hóa” (globalization) tiếp cận thế giới với tư cách là hệ thống toàn cầu có tính phức hợp và tồn tại tương hỗ. Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận này  được thể hiện ở nhận thức “quốc tế hóa” và sự phân biệt ý thức liên quan tới vấn đề giáo dục công dân dựa trên nhận thức đó.

Trước tiên hãy xem xét cách tiếp cận thứ nhất. Có thể thấy rõ cách tiếp cận này trong bản Báo cáo lần thứ nhất  của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương (1996) và bản báo cáo của Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục (1998) được tạo ra trên cơ sở bản báo này cũng như bản Hướng dẫn học tập năm 1989 và 1999, văn bản tuân theo hai bản báo cáo trên. Tức là ở đây thể hiện nhận thức “quốc tế hóa” với các vấn đề như sự sâu sắc của mối quan hệ tồn tại tương hỗ có tính quốc tế, sự gay gắt trong cạnh tranh quy mô thế giới, sự xảy ra liên tục các cuộc va chạm, tranh chấp quốc tế, sự trầm trọng hóa của vấn đề môi trường và sự cần thiết của hợp tác quốc tế. Đứng trên lập trường đó, các vấn đề của giáo dục công dân đã được đưa ra như: “có cái nhìn rộng lớn, vừa lý giải đa văn hóa vừa giáo dục phẩm chất và năng lực cùng chung sống với những người có nền văn hóa khác biệt”, “để có hiểu biết quốc tế, cần phải xác lập bản thân với tư cách là người Nhật Bản và với tư cách cá nhân”, “vừa tôn trọng lập trường của đối phương trong xã hội quốc tế, vừa giáo dục nền tảng ngoại ngữ, năng lực biểu hiện và giao tiếp từ quan điểm giáo dục năng lực cơ bản để có thể thể hiện suy nghĩ và ý kiến của bản thân”.

Tái tư duy từ cách tiếp cận thời đại-xã hội toàn cầu

Mặt khác, cũng có thể xây dựng giáo dục công dân từ cách tiếp cận quốc tế hóa thứ hai thông qua tái tư duy. Tức là tức là tư duy rằng xã hội hiện tại mà học sinh đang sinh sống và vô số các vấn đề các em phải đối mặt có mối liên quan đến tính chất toàn cầu, “thoát quốc gia”, phải tư duy vấn đề từ cái nhìn toàn cầu, thoát quốc gia để giải quyết, thực hiện giáo dục công dân nhắm tới phẩm chất, năng lực công dân toàn cầu (global citizen) có tinh thần hợp tác toàn cầu (global partnership). Ví dụ như giáo dục công dân sẽ có các chủ đề học tập như:

(1) Trí tuệ truy tìm giá trị phổ biến vượt qua sự khác biệt của văn hóa và trí tuệ với tư cách là “năng lực sống” biến việc cộng sinh, cùng chung sống trong đa văn hóa thành hiện thực.

(2) Tầm nhìn, năng lực tư duy hệ thống, năng lực đưa ra các phương án thay thế, tinh thần hợp tác và khoan dung tạo nên tinh thần hợp tác toàn cầu hướng về giải quyết vô số các vấn đề có quy mô toàn cầu.

(3) Sự lý giải bản thân và ý thức trách nhiệm đối với trái đất với tư cách là người sinh sống trên trái đất.

(4) Giáo dục công dân với chủ đề giáo dục cách nhìn, tư duy, nhận thức về hiện trạng và đặc trưng của xã hội toàn cầu.

 

Đặc trưng của công dân thế kỉ 21 và các chủ đề học tập mới

Việc xem xét từ hai quan điểm nói trên không phải là để làm gia tăng sự đối lập mà để làm phong phú thực tiễn thì cần phải tập trung vào các chủ đề học tập mới, tiến hành nghiên cứu các thực tiễn từ quan điểm phác họa rõ ràng tầm nhìn về “Xã hội thế kỉ 21”, phát triển “năng lực sống” trong xã hội đó. Khi đó, dự án E.P.S (Citizenship Education Policy Study Project) là một gợi ý. Dự án này được tiến hành với sự tham gia của 26 nhà nghiên cứu từ 9 nước Mĩ, Canada, Anh, Hà Lan, Đức, Hungary, Hy Lạp, Thái Lan, Nhật Bản do giáo sư Corgan, J. của đại học Minoseta (Mĩ) làm đại diện. Đây là dự án hợp tác nghiên cứu quốc tế diễn ra từ năm 1993 đến năm 1997. Ở đó, dựa trên sự đồng thuận của 182 người có trách nhiệm của 9 nước tham gia dự án về đặc trưng của “công dân toàn cầu” trong bối cảnh thế giới 25 năm tới và “chính sách giáo dục cần thiết” nhằm giáo dục điều đó, dự án đã đưa ra đề xuất về nền giáo dục mới. Ví dụ như, các đặc trưng của công dân toàn cầu đạt được đồng thuận là: “có nhận thức vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề trong tư cách là một thành viên của xã hội toàn cầu”, “năng lực trách nhiệm đối với vai trò và nghĩa vụ của bản thân trong xã hội, tiến hành công việc bằng phương pháp hợp tác với người khác”, “năng lực tư duy bằng phương pháp có tính phê phán và hệ thống”, “mong muốn giải quyết tranh chấp bằng thái độ phi bạo lực”, “mong muốn thay đổi lối sống và thói quen tiêu thụ của bản thân để bảo vệ môi trường”, “lòng rung cảm mạnh mẽ đối với nhân quyền và năng lực bảo vệ nhân quyền”, “lòng mong muốn và năng lực tham gia vào chính trị ở các cấp độ địa phương, quốc gia và quốc tế”. Thêm nữa, để thực hiện được giáo dục nói này, chính sách giáo dục đòi hỏi “năng lực quốc tế trở thành một bộ phần tuyệt đối cần thiết của việc học tập, giảng dạy”, “bao quát được  khái niệm nhắm đến cộng đồng trong các cơ quan giáo dục”, “sáng tạo ra các nghiên cứu cộng đồng của giáo dục và các cơ quan xã hội”.

Các thành viên của dự án đã phân tích và thảo luận về những nội dung mà giới có trách nhiệm đã đạt được đồng thuận ở trên và đề xướng việc tổ chức và khai phát các chương trình khung đáp ứng các câu hỏi đặt ra như “ đẻ xúc tiến sự bình đẳng, công chính trong trường học và xã hội và tái cơ cấu trường học với tư cách là “trường học hình mẫu về môi trường thì cần phải làm gì?”, “sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường và sự phong phú tất yếu của con người là gì?”, “Cần làm gì để đảm bảo cân bằng giữa cùng hiểu biết về giá trị phổ quát và tôn trọng giá trị địa phương?”…

Cho dù thế nào thì cả trường học và giáo viên đều cần phải phác họa cho được tầm nhìn về xã hội tương lai, làm rõ năng lực, phẩm chất công dân cần có dựa trên nền tảng xã hội ấy và nỗ lực làm cho nó được phản ánh trong giáo dục công dân.

Phương hướng xây dựng giờ học môn Xã hội và vấn đề đặt ra

Môn Xã hội là một trong những môn học có ưu thế trong việc nhắm đến mục tiêu giáo dục công dân  do trường học đảm nhận. Tuy nhiên, ngày nay khi bản thân khái niệm “công dân” đang được đặt ra tái xem xét thì giáo dục công dân trong môn Xã hội cũng cần phải tạo ra một con đường mới. Ví dụ như con đường dẫn tới những giờ học môn Xã hội ở đó làm cho học sinh tự giác được rằng mình là người có mối liên hệ với xã hội toàn cầu, có nhận thức rằng mình là một bộ phận không thể tách rời của xã hội toàn cầu và địa phương, từ đó có ý thức trích nhiệm và vai trò trong xã hội đó.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)