Phong trào giáo dục quê hương


1. Sơ lược lịch sử phát triển 

Phong trào giáo dục quê hương[1] là  phong trào giáo dục  có quan hệ mật thiết với chủ thể là học sinh  diễn ra ở Nhật Bản vào những năm 30 của thế kỉ XX. Cụ thể hơn có thể hiểu giáo dục quê hương là giáo dục lấy “giáo tài” là tự nhiên, cuộc sống, văn hóa của quê hương đồng thời dùng nó để trực quan hóa việc học tập-giảng dạy nhằm mục đích giáo dục tình yêu quê hương, tình yêu tổ quốc.

 

Tuy nhiên trên thực tế “giáo dục quê hương” không phải chỉ là phong trào đơn thuần, trong quá trình triển khai nó đã thể hiện rõ tính sinh động khi có mối quan hệ mật thiết, tương tác với các phong trào khác như phong trào viết văn về đời sống, phong trào giáo dục tự do Taisho.

 

Ở Nhật Bản việc các giáo viên lấy quê hương làm “giáo tài” (tài liệu giảng dạy-học tập) có thể thấy từ khi cuốn sách mang tựa đề “Sách địa lý quê hương” được xuất bản năm 1880 (năm Minh Trị thứ 13), nhưng bản thân tư duy về giáo dục quê hương đã bắt đầu từ khi lý luận của phái Pestalozzi[2] được giới thiệu vào Nhật Bản những năm 1880.

 

Năm 1880 (năm Minh trị thứ 13),  Wakabayashi Torasaburo và những người khác đã  dựa trên lý luận này thử tiến hành trong môn Địa lý  với các hoạt động mang tính trực quan nhằm chuẩn bị cho giảng dạy địa lý nói chung. Bên cạnh đó,  ở trường tiểu học trực thuộc trường sư phạm bậc cao Tokyo từ khoảng năm 1901 (năm Minh Trị thứ 34) đã có khóa trình giáo dục quê hương với tư cách là giáo dục dự bị  cho lịch sử-địa lý ở các lớp bậc thấp.

 

Mặt khác, giáo dục quê hương không chỉ được coi là giáo dục dự bị cho môn Địa lý mà “Quê hương” với tư cách nền tảng hình thành nhân cách học sinh, đã được bắt đầu trong lý luận của phái Herbart[3]  được giới thiệu vào Nhật Bản thời Taisho. Những người ủng hộ tư tưởng của Herbart đã khám phá ra giá trị nuôi dưỡng nhân cách trong “Quê hương” và đề xướng xác định vị trí của nó là môn giáo khoa trung tâm tích hợp các môn giáo khoa khác.

 

Dựa trên tư duy này, mục tiêu giáo dục  nhân cách cho trẻ em với trung tâm hoạt động là quê hương đã được trình bày trong “Nghiên cứu quê hương với tư cách là trung tâm tích hợp giảng dạy” (năm 1912) của Makiguchi Tsunesaburo. Giáo dục quê hương dựa trên lý luận của phái Herbart với tư cách là một hình thái của phong trào Giáo dục tự do Taisho đã trở nên phổ cập vào những năm 1920. Giáo dục quê hương với tư cách là phong trào tạo lập mối quan hệ giữa giáo dục trường học và khu vực (địa phương) đã trở nên cực thịnh vào những năm 1930. Trước đó vào  năm 1927, Bộ giáo dục Nhật Bản đã xác định địa phương hóa (chihoka) nội dung giáo dục và tiến hành điều tra tình hình thực tế của giáo dục quê hương ở các trường học trên toàn quốc lấy trung tâm là các trường tiểu học trực thuộc trường sư phạm. Tuy nhiên vào năm 1929 nhân lúc cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra  với mục đích củng cố trật tự quốc gia bị lung lay từ sau phong trào Dân chủ Taisho và  phát huy tính tự lực của vùng nông thôn chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế, Bộ giáo dục Nhật Bản đã  tăng cường chỉ đạo xúc  tiến giáo dục quê hương. Năm 1930, Bộ giáo dục quyết định chi kinh phí xây dựng các cơ sở nghiên cứu đặt trong các trường sư phạm trên toàn quốc. Năm 1931, Bộ giáo dục Nhật Bản, đưa thêm “Nghiên cứu địa phương” vào môn Địa lý. Trong Hội nghị diễn thuyết giáo dục quê hương diễn ra năm 1932, các đại biểu đã đưa ra hiệu quả và mục tiêu giáo dục quê hương ở tầm quốc gia và các nhà nghiên cứu cho rằng trên thực tế nó là thứ được coi như là phương tiện để chống lại giáo dục theo trào lưu Âu-Mĩ từ sau thời Taisho trở đi.

 

Mặt khác, thời kỳ này trong dân gian (minkan) giáo dục quê hương cũng được chú ý nhằm phục hưng nông thôn và địa phương hóa giáo dục. Giáo dục quê hương với đặc trưng là  nội dung giáo dục được kết hợp chặt chẽ với thực tế địa phương cho nên sự kiểm soát của chính quyền trung ương đối với giáo dục địa phương trên toàn quốc đã không thực hiện được. Đó là điều kiện cho giáo dục quê hương phát triển, nở rộ trên toàn quốc. Trên thực tế nó vừa tiếp nhận chính sách chấn hưng của Bộ giáo dục, vừa phát triển các phong trào rất phong phú vượt qua cả “giới hạn” mà Bộ giáo dục đặt ra.

 

Năm 1930, nhà địa lý nhân văn Oda Uchimichitoshi  cùng với Odaka Hosaku-người tán  đồng lý luận của ông,  đã tập hợp những người khác lập nên Liên minh giáo dục quê hương. Liên minh đã bao gồm cả trào lưu coi trẻ em là trung tâm của Akai Yoriko, Mineji Mitsushige, … và tiếp tục triển khai trên toàn quốc với các tổ chức ở cấp địa phương liên tiếp ra đời.

 

2. Phân loại lý luận giáo dục quê hương

Fushimi Takeya trong “Nghiên cứu trào lưu tư tưởng giáo dục” quyển 6 tập 2 đã bàn đến vấn đề này  và cho rằng có ba loại giáo dục quê hương nổi tiếng là: (1) giáo dục quê hương mang tính khách quan, duy lý;  (2) giáo dục quê hương mang tính khách quan, tình cảm; (3) giáo dục quê hương mang tính chủ quan, tình cảm. Tuy nhiên sự phân biệt này không phải bao giờ cũng rạch ròi như khái niệm. Bản thân cả Fushimi cũng thừa nhận rằng: “mặc dù là mang tính chủ quan diễn tả ý nghĩa của quê hương nhưng trong lý luận giáo dục nó lại là thứ lấy quê hương mang tính khách quan làm tiêu chuẩn” và  cũng có giáo dục quê hương vừa mang  duy lí vừa duy tình. Ví dụ như trong “Môn xã hội” của trường tiểu học trực thuộc Trường sư phạm số 1 tỉnh Aichi  vốn được coi là điển hình của  giáo dục quê hương thuộc loại 2 theo phân loại của Fushimi ở trên nhưng  xem xét kĩ các đề tài (chủ đề) thì thấy nó có liên quan đến “mục tiêu của môn công dân” của Trường bổ túc thực nghiệp (jiggyo hoshugakko) và nó là giáo dục quê hương mang tính duy lý. Vì thế các học giả Nhật Bản cho rằng  khi phân loại giáo dục quê hương  không thể phân chia theo mục tiêu giáo dục như Fushimi mà nên phân chia theo tiêu chuẩn lựa chọn đề tài để nắm bắt bản chất của thực tiễn.

 

3. Sự triển khai lý luận giáo dục quê hương trong đầu thời kỳ Showa.

Phong trào giáo dục quê hương về sau đã tập trung thảo luận về việc tuyển chọn đề tài và  vị trí của nó trong khóa trình giáo dục.

 

Tại Đại hội Hiệp hội nghiên cứu giáo dục quê hương lần thứ 2 năm 1932 (năm Showa thứ hai), đã xảy ra cuộc tranh luận giữa ý kiến cho rằng  nên sử dụng một cách có hệ thống môn “Quê hương”-tức là giáo dục quê hương trở nên độc lập và ý kiến cho rằng nên tiến hành nó trong toàn bộ giáo dục trường học.

 

Trong bối cảnh bấy giờ khi xã hội Nhật Bản đang biến đổi mạnh mẽ, các nhà thực tiễn giáo dục của Nhật đã nhận thức sâu sắc sự bế tắc của nhận thức xã hội vốn được được tiến hành bằng môn Lịch sử và Địa lý theo kiểu truyền thống. Họ đã hành động tích cực và kết quả là vào thời kỳ này đã ra đời một loạt các thực tiễn ưu tú với nguyên lý chương trình và phương pháp giáo dục tương thích với môn Xã Hội thời hậu chiến sau này. Tiêu biểu trong số này phải kể đến khóa trình  “Khóa trình giáo dục quê hương” của trường tiểu học trực thuộc Trường Sư phạm tỉnh Tokushima, “Toshi curriculumn” của Trường tiểu học  Asakusa Fuji, “Chương trình giáo dục quê hương” của Trường tiểu học trực thuộc trường nữ sinh sư phạm Akashi… Lý luận và kết quả của phong trào giáo dục quê hương trước chiến tranh đã có ảnh hưởng lớn tới sự ra đời của môn Xã Hội sau chiến tranh.

Phong trào giáo dục quê hương trong những năm 1931-1932 đã tạo ra con số cực đại về số lượng luận văn và số lượng báo cáo.  Năm 1933 (năm Showa thứ 8), “Hương thổ giáo dục chỉ đạo pháp án” của Liên minh giáo dục quê hương được biên soạn đẩy phong trào đến đỉnh cao. Tuy nhiên từ thời điểm này trở đi thì phong trào toàn quốc nhanh chóng trì trệ. Nguyên nhân là do sự kiểm soát giáo dục của nhà nước ngày càng trở nên khắc nghiệt. Một lý do nữa là nằm ở sự thay đổi mục tiêu của phong trào.  Mục đích ban đầu của giáo dục quê hương là phát huy tính tự lực của nông thôn nhưng giờ đây nó đã chuyển từ nhận thức về quê hương sang giáo dục lao động nhắm tới tăng cường lao động sản xuất hay cấu tạo hóa nông thôn.

 

Giáo dục quê hương sau sự kiện chính quyền đàn áp giáo viên viết văn về đời sống năm 1939 (năm showa 14) thì biến mất. Năm 1941 sau khi thực thi Sắc lệnh về trường học quốc dân thì “Quan sát quê hương” dành cho học sinh lớp 4  được coi là trung tâm và với tư cách là giáo dục dự bị cho Môn địa lý và môn Lịch sử trong trường quốc dân  và vai trò của nó chuyển sang đảm nhận  giáo  dục tổng hợp “lòng yêu nước”.

 

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ "Từ điển giáo dục môn Xã hội" (Gyosei, 2006)

 



Cũ hơn Mới hơn