Phát thanh-truyền hình  trường học và môn Xã hội


 

 Định nghĩa và lịch sử phát thanh- truyền hình trường học

Sự di động nhanh chóng từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin hóa cao độ đã tạo nên sự thay đổi lớn lao trong phát thanh trường học và môn Xã hội với tư cách như là điểm nút. Cả môn Xã hội và phát thanh trường học rồi sẽ tiến đến đâu? Từ khóa của sự phát triển này nằm ở cụm từ “collaboration” (cùng tác nghiệp).

Phát thanh trường học là chương trình phát thanh  do ETV và NHK tiến hành với nội dung được chế tác dựa trên kế hoạch học tập trong năm  với tiêu chuẩn là bản Hướng dẫn học tập và một phần được tài trợ bởi các ủy ban giáo dục địa phương và hội phát thanh dân sự. Chương trình này được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới và ở Nhật Bản nó được tiến hành muộn hơn các nước Anh, Mĩ, Đức khoảng 10 năm. Năm 1933 (Năm Showa thứ 8) Đài phát thành trung tâm Osaka của NHK đã tiến hành phát sóng. Hiện tại về quy mô, chất lượng các chương trình phát thanh của Nhật đã ngang bằng thế giới và đã có được sự cân bằng giữa khu vực đô thị và nông thôn. Chương trình bị gián đoạn trong cuộc chiến tranh thế  giới thứ II nhưng sau chiến tranh dưới sự chỉ đạo của CIE (Cục thông tin giáo dục dân sự) nó đã được tái triển khai nhanh chóng vào tháng 12 năm 1945 để xây dựng nước Nhật dân chủ. Sau khi môn Xã hội ra đời vào năm 1947 (năm Showa thứ 22), cùng năm từ tháng 9 đến tháng 12 toàn bộ các kênh của học kì II đã được biên tập với tư cách là kênh dành cho môn Xã hội. Năm 1950 (năm Showa thứ 25), “Đại hội toàn  quốc hội nghiên cứu giáo dục phát thanh lần thứ 2” do NHK và Bộ giáo dục đồng tổ chức được tiến hành và năm 1953 truyền hình trường học cũng được bắt đầu.  Năm 1959 (năm Showa thứ 34), Ban chuyên môn giáo dục  bao gồm cả các đài phát thanh dân sự đã tiến hành chương trình (kênh dành cho môn Xã hội cũng xuất hiện) và từ nửa sau thập kỉ 60 tỉ lệ sử dụng truyền hình đã tăng lên nhanh chóng. Thời gian phát sóng của kênh truyền hình năm 1999 của ETV (bao gồm cả thời gian phát lại) là 56 lần (14 tiếng) dành cho tiểu học, 6 lần (2 giờ) dành cho THCS, 16 lần (8 tiếng) dành cho THPT, thời gian phát thanh tính chung cho cả ba cấp học là 18 lần (4,5 tiếng). Thời lượng chương trình dành cho chương trình THPT đào tạo từ xa là 48 lần (15, 5 tiếng).Tỉ lệ sử dụng đối với tiểu học đạt mức cao nhất 98% vào năm 1988, đến năm 1996 là 95%. Đối với THCS và THPT đều đạt mức cao nhất vào năm 1982 với tỉ lệ 67% và 71% sau đó giảm xuống còn 32% và 46%. Bối cảnh đằng sau sự chuyển đổi đó là sự phổ cập của máy tính, giáo tài video, sự cắt giảm thời gian dành cho môn giáo khoa và  quan điểm coi trọng sự trải nghiệm trực tiếp của học sinh.

 

Thực tế sử dụng: chủ thể truyền hình

Đối với môn Xã hội có thể phân chia thành hai kiểu tiếp cận: cách tiếp cận coi trọng việc học thành quả của các môn khoa học xã hội và cách tiếp cận khám phá với tư cách là các vấn đề trong đời sống xã hội. Ở trường hợp thứ nhất, phần lớn chương trình sẽ là “dạy học thông qua truyền hình”, “học tập thông qua truyền hình”.Nói một cách cụ thể đây là phương pháp sử dụng trực tiếp nội dung thông qua hình thức dụng hợp sử dụng tiện lợi băng hình trong suốt cả năm và là phương pháp sử dụng nâng cao hiệu quả học tập môn Xã hội vơi stuw cách là tài liệu thảo luận sau khi nghe nghìn. Ở trường hợp thứ hai, phần lớn chương trình sẽ là “học cách học từ truyền hình” và là sự phát triển học tập điều tra. Ở cả hai trường hợp đều có sự tương thích với các giai đoạn phát triển của học sinh và đều nhằm đến việc làm sâu sắc học tập với các công phu, sáng tạo như thể hiện bằng tranh, báo chí, sơ đồ, phần mềm thể hiện trước và sau khi nghe nhìn. Trong hình thái sử dụng có:

(1) Nghe nhìn kiểu chiều dọc tổng hợp vô số các phương tiện truyền thông

(2) Nghe nhìn kiểu chiều ngang so sánh các kênh giống nhau

(3) Nghe nhìn kiểu hạt nhân, ở đó  từng nhóm sẽ xác định tư liệu chung để cùng xem một kênh.

(4) Kết hợp với trải nghiệm trực tiếp có được do truyền thông tổ chức tham quan thực địa

(5) Thực hiện thông qua hình thái phỏng vấn người chế tác chương trình.

Về các kênh truyền hình có thể phân chia thành:

(1) Kênh giảng dạy trực tiếp (thông qua truyền hình để đạt được một mục tiêu giáo dục nhất định nào đó)

(2) Kênh giáo tài bổ trợ

(3) Kênh có yếu tố tư liệu (gia tăng đưa vào các yếu tố điều tra, nghiên cứu, thảo luận)

 

Do sự khác biệt về mức độ tự do trong thời gian cho nên đối với tiểu học thì các kênh thuộc loại (1) với nghe nhìn có tính chất “trực tiếp, mô tả, liên tục” chiếm đa số trong khi ở cấp THCS và THPT (2) và (3) lại là dòng chảy chủ lưu.

 

Đặc trưng của phát thanh-truyền hình trường học

Hình ảnh của truyền hình không phải là vật thật. Sư tử trong vườn thú là động vật không có chút gì nguy hiểm! Trẻ em thích các vỏ sò ở bãi cát tự nhiên hơn là các con ốc ở trong bảo tàng biển. Vì vậy, cần phải phát huy cho được các đặc trưng của hình ảnh ở những địa điểm tham quan học tập được giới hạn do tính toán đến yếu tố an toàn. Các đặc trưng đó là:

(1) Tính cập nhật thông tin nhanh chóng: Cung cấp các giáo tài tươi mới theo sự biến đổi của xã hội.

(2) Tính đồng thời: truyền hình trực tiếp, nghe nhìn đồng thời.

(3) Tính chân thực: sức mạnh đánh vào các giác quan nghe nhìn

(4) Tính kĩ thuật: hình ảnh với tốc độ cao và hiệu quả kĩ thuật hình ảnh

(5) Tính nghệ thuật: phát đi các tác phẩm có ý tưởng, kịch tích, điện ảnh

(6) Tính quảng đại: mạng lưới phát thanh-truyền hình công cộng ở cấp độ toàn quốc.

(7) Tính liên tục: Thể hiện bằng kế hoạch trong cả năm

(8) Tính đơn giản: Độ phổ cập cao.

Thêm nữa, việc chế tác nên chương trình bởi những cơ quan truyền hình lớn như NHK là một đặc trưng của nước ta. Ở điểm này việc không có các cơ quan tương ứng với NHK trong truyền thông đa phương tiện sẽ trở thành vấn đề từ giờ về sau. Cho dù thế nào, việc đứng trên lập trường của người học và không phụ thuộc vào sự tiến bộ của máy móc, và khởi đầu nghiên cứu sử dụng từ lô-gic của môn giáo khoa sẽ là con đường đúng đắn.

Tương lai của phát thanh-truyền hình trường học

Trong chương trình “Internet School-một thế giới” (giáo dục môi trường dành cho các lớp bậc cao), học sinh đã có thể trao đổi ý kiến với những bạn khác cùng lứa tuổi ở trang “điều tra về rác hữu cơ” và chương trình đã tạo ra một sự hợp tác giữa các trường và lớp học với trung tâm là kênh truyền hình. Khi tính hai chiều này mạnh lên có thể sẽ có được thể chế “team-teaching” và nhân lực bên ngoài có chuyên môn và năng lực biểu hiện phong phú thông qua tổ chức lớn như NHK bằng các hoạt động phát thanh truyền hình trường học. Việc làm cho mọi người nhận thức được truyền hình là một công cụ giải quyết vấn đề cũng là trách nhiệm của môn Xã hội trong xã hội đang thông tin hóa cao độ.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)