PHÂN CHIA THỜI ĐẠI

Tính tiện lợi của việc phân chia thời đại

Cách phân chia thời đại tiện lợi phổ biến hiện nay là cách chia thành 3 thời đại: “cổ đại”, “trung thế” (trung đại), “cận đại” (hiện đại”. Cũng có cách phân chia thành: “nguyên thủy”, “cổ đại”, “trung thế”, “cận thế”, “cận đại”, “hiện đại”.

Tư duy phân chia thời đại dựa trên cách suy nghĩ rằng dựa trên các chỉ dấu thời gian có tính lịch sử người ta có thể phân chia thành các đơn vị gọi là “thời đại”.. Cách phân chia làm 3 thời đại nói trên bắt đầu từ trong phong trào văn hóa Phục Hưng ở châu Âu, từ xu hướng nhấn mạnh thời đại mới sẽ bắt đầu mà gọi thời kì Hy Lạp-Roma sản sinh ra văn minh mô phạm là “cổ đại”, gọi thời đại Ki-tô giáo là trung tâm là “trung đại”. Vì vậy, sự phân chia này được tạo ra từ nhận thức thời đại “trung đại” là thời đại bị khuất phục bởi những sự phi khoa học.

Trong sự phát triển nối dài của quan điểm phân chia thời đại này có sự tham gia của chủ nghĩa Mác. Mác, để làm rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản cận đại đã thử nghiệm làm rõ cấu tạo xã hội từ quan điểm liên quan tới kinh tế. Trong quá trình đó ông chú ý đến  sự phát sinh của “giai cấp” giữa nhà tư bản và người lao động và cho rằng sự phát triển của lịch sử sẽ đi từ “xã hội chiếm nô” tới “Xã hội phong kiến” và “Xã hội tư bản”. Sau khi Mác chết, tư duy này hòa trộn với sự phân chia thời đại của thời kì Phục hưng trở thành nhận thức lịch sử  cho rằng lịch sử sẽ tiến bộ một cách phát triển từ cổ đại (=xã hội chiếm nô), trung đại (=chế độ phong kiến), cận đại (hiện đại)=xã hội tư bản và đó là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp đòi tự do của con người. Bằng việc kết hợp với  với sự phân chia thời đại dựa trên chỉ dấu quan hệ kinh tế của Mác,  cách phân chia thời địa “cổ đại”, “trung đại”, “cận đại” với tư cách là sự phân chia thời đại đứng trên sự kiểm chứng có tính “khoa học” đã được hình thành.

Tuy nhiên, về  bản chất sự phân chia thời đại chẳng qua là sự phân chia sao thời gian sao cho tiện lợi dựa trên các chỉ dấu (quan điểm) nhất định vì vậy vẫn tồn tại cả những cách phân chia khác với cách phân chia nói trên. Ví dụ như từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 khi chế độ giáo dục trường học của Nhật Bản được hình thành với hình mẫu là châu Âu, trong giáo dục lịch sử nhận thức lịch sử theo chủ nghĩa Mác bị phủ định và do chế độ lập hiến Minh Trị với chủ quyền thuộc về Thiên Hoàng được lý giải mang tính lịch sử cho nên  các địa danh nơi tồn tại chính quyền được chọn làm chỉ dấu để phân chia thời đại. Kết quả là tên các thời đại như “thời kì Asuka”, “thời kì Nara”, “thời kì Heian”, “thời kì Kamakura”… đã trở nên phổ biến thông qua giáo dục trường học. Đâylà sự phân chia thời đại một cách “tiện lợi” dựa trên chủ trương chính trị rằng chủ quyền của Thiên hoàng tồn tại nhất quán từ thời cổ đại chứ không phải là thứ được xác lập sau cuộc đấu tranh thời Minh Trị và cũng không phải là thứ sẽ bị phủ định bởi cuộc đấu tranh giai cấp về sau (hoàng quốc sử quan).

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhận thức lịch sử này về cơ bản đã bị phủ định nhưng  mặt khác trong bối cảnh nước Nga (Liên Xô) khi đó đang khẳng định chủ nghĩa Mác và Mĩ-nơi phủ nhận nó đang đối đầu bởi cuộc chiến tranh lạnh, chính phủ Nhật vốn có mối quan hệ mật thiết với Mĩ đã gửi đi thông điệp phủ nhận nhận thức lịch sử Mác-xít. Vì vậy, ở trường học sự phân chia thời đại như “Thời kì Nara”, “thời kì Heian” vẫn còn tồn tại. Mặt khác trong giới học thuật cũng tranh luận  liên tục về sự tương ứng của cách gọi các thời đại trên tương ứng với “cổ đại”, “trung đại”.

Giáo dục trường học và phân chia thời đại

Giáo dục lịch sử trong trường học ở Nhật Bản có khuynh hướng nhồi nhét nhận thức lịch sử nhà nước ngay từ khi mới xác lập. Trong môi trường học tập như vậy, mức độ tự do nhận thức một cách chủ thể của học sinh-chủ thể của quá trình học tập bị giới hạn ở mức độ thấp. Vì vậy, sự phân chia thời đại cũng không phải là thứ “tiện lợi” mà là thứ được dạy với tư cách là sự phân chia “định sẵn”.

Việc phân chia như vậy làm cho người học khi lý giải một cách cơ học sự biến chuyển của thời đại với tư cách là sự phân chia thời đại gặp thuận lợi nhưng nó cũng chứa đựng nguy cơ người học không nhận ra các trường hợp ngoại lệ và cách phân chia khác trong học tập. Nó làm cho nhận thức xã hội của người học bị thu hẹp và tạo ra hệ quả là không kết nối được với việc giáo dục các phẩm chất công dân. “Phân chia thời đại” là thứ làm vì mục đích ‘tiện lợi” và nó sẽ thay đổi khi có sự thay đổi về quan điểm. Cần phải làm cho người học nhận thức được rằng công việc phân chia thời đại là một dạng thao tác tư duy về lịch sử.

Ngay cả đối với nhận thức lịch sử của chủ nghĩa Mác cũng có ý kiến phê phán cho rằng đó chỉ là nhận thức lịch sử đơn tuyến với tiêu chuẩn là lịch sử cận đại châu Âu. Ví dụ như vấn đề coi châu Âu là tiên tiến và chỉ ra mô hình phát triển kinh tế của châu Ấu là tiên tiến sẽ dẫn tới việc đánh giá tích cực sự phá hoại môi trường  và lịch sử kích thích việc xung đột giữa các dân tộc. Mặt khác ngày nay khi sự “quốc tế hóa” đang tiến triển cũng đặt ra vấn đề lấy căn cứ khoa học nào cho sự phân chia thời đại kiểu Nhật Bản và nó cũng chỉ ra sự phi lô gic của việc phân chia thời đại đối với toàn bộ quần đảo Nhật Bản.

Giáo dục làm cho học sinh nhận ra “phân chia thời đại” là thứ có tính “tiện lợi” có liên quan tới nền tảng của nhận thức xã hội xem xem nó dựa trên tiêu chuẩn nào để phân chia quá khứ, dựa trên tiêu chuẩn nào để xác lập xã hội tương lai. Có thể nói hoạt động “trải nghiệm phân chia thời đại” của học sinh dựa trên hoạt động điền dã ở địa phương để phân chia thời đại lịch sử địa phương là một trong những hoạt động học tập giáo dục năng lực nhận thức xã hội mang tính chủ thể.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)