Nhận thức xã hội


  1. Định nghĩa.

Nhận thức xã hội là lĩnh vực hoạt động trí tuệ được  môn Xã hội tạo ra với tư cách là môn giáo khoa, là hệ thống tri thức liên quan đến các hiện tượng xã hội được hình thành bên trong học sinh với tư cách là thành quả của giáo dục môn Xã hội. Sự hình thành nhận thức xã hội  là nguyên lý mục đích của giáo dục môn xã hội và là triết lý trung tâm của giáo dục học môn xã hội.

Cụm từ nhận thức xã hội ban đầu được sử dụng đầu tiên bởi Hội  nghiên cứu khoa học giáo dục, một trong những đoàn thể nghiên cứu giáo dục dân sự và lúc đầu nó được hiểu là thứ có nội dung ý nghĩa đặc biệt gắn kết với lý luận giáo dục môn xã hội của hội nghiên cứu này. Về sau, cụm từ này được sử dụng nhiều với các bài viết làm rõ về sự phát sinh mang tính hệ thống  của nhận thức xã hội khoa học  và nó dần được coi là thuật ngữ học thuật, được các nhà nghiên cứu giáo dục môn xã hội, các nhà thực tiễn sử dụng rộng rãi. Ngày nay nhận thức xã hội được dùng với ý nghĩa phổ biến.

  1. Nhận thức mang tính sự thật

Nhận thức được kì vọng ở những thứ được hình thành ở bên trong học sinh thông qua  giáo dục môn Xã hội có thể được  tiếp cận với tư cách  là tổng thể của tri thức liên quan đến hiện tượng xã hội.

Tri thức-nhận thức có thể phân chia một cách đại thể thành thứ mang tính sự thật và thứ mang tính giá trị.

Tri thức-nhận thức mang tính sự thực  có cấu tạo 3 tầng lớp. Thứ nhất ở tầng dưới cùng là tri thức mang tính kể lại một cách riêng rẽ về từng sự thật cấu thành nên sự thực xã hội. Ví dụ như nếu nhìn vào “khu công nghiệp Mizushima” thì đó là các tri thức  liên quan đến các yếu tố cấu thành hiện tượng và quá trình triển khai nó như “lấp biển để xây cảng”, “đắp đập để lợi dụng sức nước”, “đã xảy ra ô nhiễm không khí và nước”… tức là ở đâu, ai làm, tác động vào ai, cái gì được làm, làm thế nào, trở nên như thế nào, cái gì, đã thế nào…Chiếm đại bộ phận trong  tri thức mà chúng ta có là tri thức mang tính sự thực này. Những tri thức này được ghi nhớ một cách tĩnh, nhất thời và nhanh chóng bị quên. Nhận thức có được là thứ mang tính hiện tượng  và phẳng.

Tầng 2 là tri thức mang tính cá biệt, mang tính thuyết minh về hiện tượng mang tính cá biệt (từng hiện tượng) như cái đó  tại sao lại xảy ra, bằng việc xảy ra đó nó đã trở nên thế  nào?  dự đoán xem nó sẽ trở nên thế nào?  Tại sao?  Ví dụ như “Mizushima do có đất đai và nước dễ sử dụng và tạo ra cảng nước sâu cho nên khu  công nghiệp  đã được xây dựng”, “các nhà máy ở  Mizushima được xây dựng và xảy ra ô nhiễm”, … Cái đầu là trả lời cho câu hỏi tại sao, cái sau là trả lời cho câu hỏi đã trở nên thế nào. Việc chúng ta muốn biết về hiện tượng xã hội là kết quả, ảnh hưởng, ý nghĩa, là cá tính, bản chất, cấu tạo, sự thay đổi của nó. Chúng được giải thích (thuyết minh) nhờ vào việc tạo ra mối quan hệ nhân-quả của các sự thật được thấy ở hiện tượng. Tri thức có được  không phải là sự ghi chép dữ liệu mà là  sự giải thích sự thật. Nhờ sự giải thích, mà mối quan hệ không nhìn thấy ở hiện tượng được nắm vững, nhận thức được lập thể hóa, cấu tạo hóa và trở thành thứ cao hơn.

Tầng thứ ba của nhận thức mang tính sự thật là tri thức mang tính giải thích nói chung. Ví dụ như “khu công nghiệp  được tiến hành ở nơi dễ khai thác đất, nước và có thể tạo ra cảng sâu”, “Khu công nghiệp  được đặt ở nơi có thể biến tổng chi phí thành nhỏ nhất”. Chúng giải thích các nguyên nhân và điều kiện của các hiện tượng phổ biến như “khu  công nghiệp”, “công  nghiệp”. Tri thức này là thứ giải thích, dự đoán về hiện tượng mang tính cá biệt của xã hội, là cách suy nghĩ, cách nhìn về xã hội, là quy luật, lý luận. Nếu như biết về ảnh hưởng, kết quả, điều kiện của khai phát khu công nghiệp,  thì có thể giải thích, dự đoán về   sự phát triển khu vực công nghiệp trong ngoài. Chúng ta  mong muốn giải thích, dự đoán hiện tượng mang tính cá biệt, phát hiện-sáng tạo  ra các cách nhìn, cách suy nghĩ, quy luật-lý luận, sử dụng nó để giải thích, dự đoán nhiều hiện tượng khác. Việc tiến hành điều này một cách chuyên môn, quy mô lớn hơn và nghiêm ngặt hơn chính là khoa học.

  1. Nhận thức mang tính giá trị.

Liên quan đến xã hội thì không chỉ có nhận thức mang tính sự thật,  mà còn có diễn ra nhận thức mang tính giá trị-quy phạm như “do sự khai phát khu công nghiệp mà cuộc sống con người trở nên xấu đi”, “không nên phát triển khu công nghiệp”. Nếu như kết quả sau khi tìm kiếm triệt để mà đạt đến phán đoán như thế này thì sẽ liên kết được các căn cứ chống đỡ cho tri thức nói chung hay tri thức mang tính giải thích, ghi chép mang tính cá biệt liên quan tới khai phát từng khu vực công nghiệp và hình thành nên một hệ thống tri thức. Đó là việc chỉ ra hiện thực cần có, chỉ ra phương hướng thái độ-hành động cần có đối với hiện thực. Hệ thống tri thức này nếu như liên kết với phương pháp thực hiện hiện thực cần có như phong trào kí tên phản đối khai phát khu vực công nghiệp thì sẽ trở thành tư tưởng phản đối khai phát khu công nghiệp. Và tư tưởng về các hiện tượng chủ yếu của xã hội  có mối liên hệ với nhau, trở nên thống nhất sẽ trở thành tư tưởng chính trị, tư tưởng kinh tế. Thêm nữa nếu như chúng được liên kết với nhau và có tính nhất quán và trở thành một hệ thống thì nó sẽ trở thành ý thức hệ (ideology). Nó là tri thức mang tính hệ thống liên quan đến hiện thực tổng thể của xã hội và phương pháp thay đổi hiện thực đó  theo phương hướng cần phải có và là hình thái cao nhất của nhận thức xã hội.

  1. Nhận thức xã hội và môn Xã hội.

Do cách đưa ra mối quan hệ giữa nhận thức mang tính sự thực và nhận thức mang tính giá trị cùng  cách thức liên hệ với nhận thức xã hội của trẻ em, môn Xã hội có hai cách tư duy. Cách thứ nhất  cho rằng nhận thức giá trị quyết định nhận thức mang tính sự thực, một giá trị quan đúng đắn khoa học. Đó là lập trường của chủ nghĩa Mác chủ trương môn Xã hội cần nhắm tới mục tiêu giáo dục thống nhất nhận thức mang tính giá trị và nhận thức mang tính sự thực. Thứ hai cho rằng giá trị quan là thứ mang tính chủ thể, cá nhân vì vậy khoa học không thể thể hiện giá trị. Môn Xã hội chỉ nên liên quan đến chỉ đạo nhận thức sự thực. Đó là lập trường chủ nghĩa hiện đại. Môn xã hội của lập trường trước trở thành giáo dục tư tưởng, ý thức hệ. giáo dục môn xã hội ở các xã hội dân chủ là nhắm tới mục tiêu hỗ trợ sự hình thành nhận thức xã hội khoa học được khai mở từ lập trường thứ hai.

Nguyễn Quốc  Vương dịch  từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000).


Cũ hơn Mới hơn