Newspaper in Education (NIE)

Sự khởi đầu của NIE

NIE là viết tắt của “Newspaper in Education” và ở nước ta nó được dịch là “sử dụng báo chí trong giáo dục”. Phong trào này ra đời ở Mĩ vào những năm 30 (thế kỉ XX), là phong trào giáo viên, phụ huynh và học sinh lấy báo chí làm giáo tài học tập ở nhà trường và gia đình.

Hiện tại, trong số 1500 tờ báo trên toàn nước Mĩ có 700 tờ  được sử dụng làm giáo tài và giờ học sử dụng báo chí được tiến hành ở 67.000 trường. Động cơ tiến hành phong trào rộng lớn như vậy  là do vào năm 1955 ở bang Iowa đã tiến hành “cuộc điều tra trực tiếp về văn hóa đọc  của học sinh trung học”. Cuộc điều tra đã hé lộ thực tế 40% học sinh trong số 5.500 người là đối tượng của cuộc điều tra đã không hề đọc gì ngoài lớp học. Kinh ngạc trước kết quả này, Des Moines Register-tờ báo ở địa phương đã triển khai phong trào NIC (Newspaper in Classroom) với sự cộng tác của Hiệp hội giáo dục nước Mĩ. Đây là sự khởi đầu của NIE mang tính tổ chức trên đất Mĩ.

35 quốc gia trên thế giới tham gia phong trào

Theo cuộc điều tra năm 1997 (năm Heisei thứ 9) của WAN (Hiệp hội báo chí thế giới), trên thế giới có 35 nước (bao gồm cả Nhật Bản) tiến hành phong trào NIE. Các nước chia sẻ điểm chung ở mục đích của NIE là “nâng cao văn hóa đọc của học sinh và giáo dục nhân cách có tính chủ thể”. Bên cạnh đó trong cuộc điều tra này các môn học sử dụng báo chí xếp theo thứ tự từ nhiều tới ít là: Xã hội, Quốc ngữ, Lịch sử, Địa lý, Toán.

Những bước đi của NIE ở nước ta

Cơ hội để NIE triển khai ở nước ta là sự cảnh báo mạnh mẽ trong giới báo chí và giáo dục về sự thoát ly văn hóa đọc của thanh thiếu niên.  Để ngăn chặn tình trạng này, với tư cách là một phương pháp, biện pháp giúp học sinh quen thuộc với văn hóa đọc, Hiệp hội báo chí Nhật Bản đã tiến hành thị sát tình hình NIE ở nước ngoài trong năm 1986-1988 (năm Showa 1961-1963) và xác nhận rằng hiệu quả giáo dục của phong trào NIE khá cao. Năm 1989, Hiệp hội đã thành lập Ủy ban NIE nhằm tiến hành NIE trong giới báo chí.

Cùng năm này, dưới sự kêu gọi của Ủy ban NIE, kế hoạch sử dụng báo chí tron giáo dục ở các trường tiểu học-trung học cơ sở ở thủ đô Tokyo đã được bắt đầu. Các giáo viên quan tâm tới NIE trong 3 tháng đã cung cấp báo chí , xây dựng kế hoạch thực nghiệm xác nhận hiệu quả giáo dục và 4 giáo viên đã tiến hành giờ học thực nghiệp công khai, phát biểu công bố kết quả.

Cùng với động thái này, các tổ chức xúc tiến NIE ở khắp 47 đô, đạo, phủ, tỉnh trên toàn quốc cũng được thành lập. Các tổ chức này đã thu thập nguyện vọng của các trường ở các địa phương, tiếp nhận sự giới thiệu và thừa nhận của Ủy ban NIE và tiến hành sôi nổi hoạt động cung cấp báo cho các trường tiến hành thực tiễn giáo dục.

Cùng với quá trình tiến triển về mặt tổ chức trên toàn quốc, Hiệp hội báo chí Nhật Bản đã lập ra “Quỹ NIE” và triển khai tích cực hai công việc “cung cấp báo chí” và “PR-nghiên cứu”. Từ năm 1998, sự nghiệp NIE đã được chuyển từ tay Hiệp hội sang HÔi giáo dục văn hóa báo chí Nhật Bản.

Vào mùa thu năm 2000, trung tâm NIE toàn quốc được xây dựng ở thành phố. Trung tâm NIE toàn quốc đảm nhận vai trò là hạt nhân của phong trào và tiến hành các hội thảo, thảo luận hướng tới các giáo viên tiến hành thực nghiệm. Thêm nữa, tổ chức còn cung cấp thông tin và các tài liệu có liên quan, cần thiết cho việc xúc tiến NIE ở hiện trường giáo dục, hỗ trợ hoạt động NIE ở các địa phương.

Sự nghiệp cung cấp báo chí cho các trường được chỉ định đột ngột tăng mạnh cho nên vào năm 1999 (năm Heisei thứ 11), trên cả nước đã có 324 trường nằm trong danh sách này.

Đặc trưng của NIE

Nếu như việc giáo viên sử dụng báo chí làm giáo tài để tiến hành giờ học vậy thì nó khác vì so với việc trước kia các giờ học có lấy giáo tài bổ trợ là các bài cắt ra từ báo?

NIE khi so sánh với cách thức truyền thống khi báo chí được cắt ra với kinh phí của giáo viên, trường học và gia đình có những điểm khác biệt sau:

(1) Giới báo chí và giới giáo dục liên kết chặt chẽ và cứ định kì lại cung cấp các tờ báo cho lớp học.

(2) Chi phí của số báo đó là do các tòa báo và Hội văn hóa giáo dục Nhật Bản mỗi bên chịu một nửa, trường học và học sinh không phải trả bất kì một chi phí nào.

(3) Giới giáo dục và giới báo chí phối hợp tiến hành phong trào và tổ chức nên các tổ chức NIE theo đơn vị đô,đạo, phủ, tỉnh.

Phong trào học tập với sự kết hợp của giới báo chí và giới giáo dục này là đặc trưng của NIE ở nước ta.

Hiệu quả của NIE

Vào năm 1998-1999 Hội văn hóa giáo dục báo chí Nhật Bản đã tiến hành điều tra hiệu quả của NIE sau khi  tiến hành phong trào trong thực tiễn ở trường học. Khi so sánh kết quả điều tra trước và sau khi thực hiện NIE với học sinh thì thấy  số lần đọc báo và thời gian đọc báo của học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ  thông đều tăng. Thêm nữa, sau khi thực hiện NIE thì học sinh đã quan tâm hơn tới xã hôi với tỉ lệ đối với “sự cố, vụ án xã hội” (52.5%), “sức khỏe-phúc lợi-môi trường” (33.6%), “nước ngoài” (21.4%), “địa phương” (20.4%) . Thêm nữa,  sau khi thực hiện  học sinh đã trả lời thích làm các việc với tỉ lệ phần trăm như sau: “đọc văn bản” (49.6%), “biết được chi tiết sự việc do mình tự điều tra” (49.1%), “nghe ý kiến người khác” (38.9%).

Theo kết quả điều tra dành cho giáo viên sau khi thực hiện NIE các môn thực hiện NIE nhiều nhất là môn Xã hội (từ tiểu học đến THPT), tiếp theo là các hoạt động học tập khác. Ngoài ra sau khi sử dụng báo chí ở học sinh còn có kết quả: “đọc báo liên tục” (83%), “gia tăng việc nói chuyện với gia đình và bạn về về các bài báo” (76.3%), “trang bị cho bản thân thái độ  học tập tự mình điều tra” (74%), “học tập sôi nổi tại lớp” (70.3%), “gia tăng đọc và viết”

(59%). Đây là phản ứng thể hiện ý nghĩa học sinh “trở nên thích hơn” và là kết quả khách quan được công nhận.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)