“Năng lực sống” và môn Xã hội

1. Định nghĩa

 

Là việc có giáo dục hay không giáo dục “năng lực sống”  trong môn Xã hội với tư cách là phẩm chất-năng lực đối phó với sự thay đổi của xã hội.

“Năng lực sống” là tư duy được đề xướng trong Báo cáo lần thứ nhất  của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương lần thứ 15 có tên “Về nền giáo dục của nước ta trong thế kỉ XXI” và nó là thứ nhắm đến việc đặt nền tảng cho giáo dục từ giờ trở về sau.

Về “năng lực sống”, Bản báo cáo lần thứ nhất đã coi nó là năng lực-phẩm chất có thể ứng phó với sự thay đổi của xã hội và cho rằng đó là  “năng lực- phẩm chất tự mình phát hiện vấn đề, tự mình học tập, tự mình suy nghĩ, phán đoán và hành động một cách chủ thể để giải quyết vấn đề một cách tốt hơn. Thêm nữa, vừa tự lập vừa hợp tác với người khác, có trái tim đa cảm, quan tâm tới người khác,  có tâm hồn phong phú và tất nhiên có sức khỏe và thể lực tốt để sống đầy nhiệt huyết”. Bên cạnh đó trong bản Báo cáo lần thứ nhất còn ghi rõ “năng lực sống” là “năng lực tự học, năng lực tự suy nghĩ”. Năng lực sống này có thể coi là thứ có ý nghĩa giáo dục nên con người có mối cân bằng giữa “Trí-Đức-Thể”, và câu văn trên  thể hiện sự bổ sung ở phương diện con người  đang được đặt ra trước yêu cầu của thời đại. Trong bản báo cáo của Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục (1998) sau khi đề cập đến nội dung tóm tắt của việc đề xướng “năng lực sống”, bản báo cáo đã chủ trương  rằng  môn Xã hội từ giờ trở đi cần giáo dục con người có mối quan tâm tới các hiện tượng của Nhật Bản và thế giới, cân nhắc một cách đa chiều,  có thái độ, năng  lực phán đoán khách quan,  có hiểu biết và tình yêu đối với lãnh thổ và lịch sử Nhật Bản, có tinh thần hợp tác quốc tế, có sự tự giác với tư cách là người Nhật, giáo dục thái độ, năng lực sống một cách chủ thể trong xã hội quốc tế. Thêm nữa từ quan điểm  giáo dục thái độ, năng lực đối phó  với sự biến đổi của xã hội, dựa trên nội dung cơ bản cần phải  làm cho học sinh học tập cách học, cách tra cứu, học tập trải nghiệm, học tập giải quyết vấn đề….

Có thể nói đây là vấn đề đặt ra cho môn Xã hội nhằm giáo dục “năng lực sống” và việc làm thế nào để cụ thể hóa nó trở thành vấn đề đặt ra.

2. Vấn đề đặt ra  

Hội động thẩm định giáo dục cùng với nội dung tóm tắt của “năng lực sống” còn đưa ra bốn quan điểm:

a. Liên kết trường học-gia đình-xã hội khu vực và làm phong phú giáo dục ở gia đình, xã hội khu vực.

b. Gia tăng cơ hội trải nghiệm thiên nhiên, trải nghiệm cuộc sống của học sinh.

c. Triển khai giáo dục trường học coi trọng giáo dục “năng lực sống”.

d. Đảm bảo sự “thong thả” của toàn thể xã hội và học sinh.

Trong môn Xã hội cần nỗ lực làm phong phú giáo dục dựa trên nội dung cơ bản của “năng lực sống” và bốn điểm vừa kể trên. Ở môn Xã hội, trong số các nội dung của “năng lực sống” thì  cần đặc biệt chú ý  tới “phẩm chất và năng lực tự mình phát hiện vấn đề, tự mình học tập, tự mình suy nghĩ, phán đoán và hành động một cách chủ thể để giải quyết vấn đề tốt hơn”,  với tư cách là đặc trưng  của hoạt động học tập, học tập giải quyết vấn đề đã diễn ra và nhắm đến việc làm phong phú đó. Và khi chú ý đến sự nhấn mạnh tự mình học tập, tự mình suy nghĩ,  thì không phải chỉ có học tập giải quyết vấn đề thông qua vấn đề học tập chung trong học tập hàng loạt mà  còn cần phải nhắm tới  việc đưa vào học tập giải quyết vấn đề một cách tích cực thông qua sự lựa chọn vấn đề học tập của cá nhân. Ví dụ như không phải chỉ có học tập tự chọn ở trường trung học cơ sở mà học tập tự chọn ở trường tiểu học cũng trở nên có thể và thêm nữa có thể đưa  cả vào hoạt động học tập thông thường.

Về  “sự liên kết của nhà trường-gia đình –xã hội địa phương và sự phong phú của giáo dục  trong gia đình, xã hội khu vực” ở môn Xã hội thì do  các hiện tượng xã hội được đưa ra trong hoạt động học tập tồn tại trong thực tế cho nên giáo  dục dựa trên sự liên kết gia đình-nhà trường-xã hội khu vực là cần thiết. Thêm nữa  nếu nội dung được đưa ra với tư cách là hiện tượng xã hội tồn tại trong gia đình hay xã hội khu vực thì không phải chỉ đưa chúng thành tài liệu học tập có ích ở trường học  mà còn phải  làm cho giáo dục trường học có vị trí trong kế  hoạch sắp xếp của gia đình và xã hội khu vực. Tức là cần phải nhắm đến việc dung hợp xã hội và trường học một cách tích cực.

Đây không phải chỉ là việc  làm sôi động trường học mà nó còn làm cho gia đình và xã hội khu vực trở nên năng động.

Về  “gia tăng cơ hội trải nghiệm tự nhiên, trải nghiệm cuộc sống của học sinh” thì cùng với tư duy coi trọng học tập khu vực ở trường tiểu học và trung học cơ sở, cần phải  đưa mối quan hệ với hiện tượng xã hội trở thành kinh nghiệm thông qua trải nghiệm thực tế. Ví dụ như trong trường hợp đưa ra các công trình công cộng thì không phải chỉ có việc  làm cho học sinh trong tương lai có thể sử dụng mà cần phải đề cập đến các giai đoạn phát triển, làm cho học sinh tích cóp dần kinh nghiệm có thể sử dụng ở từng giai đoạn. Nhờ đó, cơ hội trải nghiệm không chỉ giới hạn trong một lần và  việc làm cho học sinh có trải nghiêm đầy ý nghĩa ở từng giai đoạn là rất quan trọng.

Về “triển khai giáo dục trường học coi trọng giáo dục “năng lực sống” thì trong “Giáo dục trường học” của bản Báo cáo lần thứ nhất đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nền tảng trong mối quan hệ với môn xã hội.  Sau khi đề cập đến sự nhấn mạnh “giáo dục sự hiểu biết và tình yêu đối với văn hóa và truyền thống của nước ta”, báo cáo chỉ rõ môn Xã hội cần phải làm phong phú hoạt động học tập nhắm đến  việc cụ thể hóa quan điểm này.

Về “đảm bảo sự “thong thả” của toàn thể xã hội và trẻ em”,  bản Báo cáo thứ nhất đã đề xướng giáo dục “năng lực sống” trong hoạt động giáo dục  “thong thả” nhấn mạnh sự cần thiết phải đem lại sự “thong thả” ở cả về mặt thời gian và tình cảm của trẻ em. Việc đem lại sự “thong thả” về mặt thời gian và sự “thong thả” về mặt tâm hồn trong hoạt động học tập của môn Xã hội và tiến hành  giáo dục làm cho học sinh có khả năng quyết định một cách tự chủ cách sống của bản thân là điều quan trọng.

Nói thêm, năng lực sống đã lần đầu tiên xuất hiện trong báo cáo có tên “Về chính sách cơ bản nhằm chuẩn bị tổng hợp cho giáo dục trường học từ giờ về sau” (năm Showa 46) của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương. Tuy nhiên, năng lực sống đang được đưa ra ở đây, trong bản báo cáo của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương năm 1996 nó được nhấn mạnh và để trong ngoặc kép.


Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 


Cũ hơn Mới hơn