Một vài nét về việc biên soạn, thẩm định và tuyển chọn sách giáo khoa lịch sử ở Nhật Bản hiện nay


Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giáo dục Nhật Bản có những biến chuyển  cơ bản và toàn diện. Hệ thống giáo dục chuyển thành 6-3-3-4 (6 năm tiểu học, 3 năm THCS, 3 năm THPT và 4 năm đại học). Giáo dục nghĩa vụ được quy định gồm hai cấp tiểu học và THCS. Khóa trình giáo dục được sắp xếp lại với sự ra đời của một môn học hoàn toàn mới: Nghiên cứu xã hội (thường được gọi tắt là môn Xã hội) tích hợp ba môn Lịch sử, Địa lý, Công dân. Môn học này đóng vai trò trung tâm của cải cách giáo dục và thể hiện tập trung nhất triết lý của nền giáo dục mới: giáo dục nên người công dân của xã hội hòa bình, dân chủ, tôn trọng con người[1].

  1. Khái quát về chương trình môn Lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản.

Môn Nghiên cứu xã hội (Xã hội) chính thức ra đời năm 1947 là môn học tích hợp Lịch sử, Địa lý, Công dân. Từ khi ra đời đến nay, môn học này đã trải qua nhiều biến động về cơ cấu các phân môn ở các cấp học. Hiện nay, về cơ bản môn Lịch sử ở các cấp học phổ thông Nhật Bản được phân bố như sau:

* Cấp tiểu học

Lịch sử bắt đầu được học tập với tư cách là môn học chính thức từ lớp 6-lớp cuối cùng của bậc tiểu học. Nội dung chủ yếu là lịch sử Nhật Bản. Tuy nhiên trước đó ở lớp 4, 5 học sinh đã được học chút ít về lịch sử khi học tập về “địa phương” và “sản xuất công nghiệp”.

* Cấp THCS

Ở cấp học này môn Xã hội được chia ra thành “phân môn Địa lý” và “phân môn Lịch sử”. Trong “phân môn Lịch sử”, giáo dục lịch sử lấy việc dạy lịch sử Nhật Bản làm trung tâm trên cái nền là lịch sử thế giới.

* Cấp THPT

Bao gồm  hai phân môn: “Lịch sử thế giới” và “Lịch sử Nhật Bản”. Trong từng phân môn lại chia ra thành “Lịch sử thế giới A”, “Lịch sử thế giới B”, “Lịch sử Nhật Bản A”, “Lịch sử Nhật Bản B” với mức độ khác nhau cho học sinh lựa chọn.

  1. Cách thức và quy trình biên soạn, kiểm định và tuyển chọn  sách giáo khoa lịch sử ở Nhật Bản

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, SGK lịch sử Nhật Bản được biên soạn và sử dụng theo “chế độ quốc định”[2]. Tuy nhiên sau năm 1945 chế độ “sách giáo khoa quốc định” bị bãi bỏ và “chế độ kiểm định” được thực thi. Theo chế độ kiểm định thì nhà nước Nhật Bản chấp nhận và bảo hộ việc biên soạn và sử dụng nhiều bộ SGK. SGK lịch sử sẽ do các nhà xuất bản tư nhân và các tác giả biên soạn. Sau khi biên soạn xong các nhà xuất bản và tác giả sẽ trình lên bộ giáo dục (đăng kí kiểm định). Tiếp nhận yêu cầu này, Bộ giáo dục sẽ thành lập Hội đồng thẩm định và ra quyết định cuốn sách nào sẽ được trở thành sách giáo khoa chính thức. Quy trình này được diễn ra qua các bước như dưới đây:

  1. Biên soạn

Trước hết phải khẳng định ngay một điều việc biên soạn SGK lịch sử mọi cấp từ tiểu học đến THPT là do các nhà xuất bản tư nhân và các tác giả tiến hành. Ở công đoạn này không hề có sự nhúng tay trực tiếp của nhà nước. Các SGK mà chúng ta thấy học sinh Nhật Bản sử dụng trong trường học là các cuốn sách được các nhà xuất bản này biên soạn dựa trên bản “Hướng dẫn học tập[3]” của Bộ giáo dục. Văn bản này là văn bản chỉ đạo chính thức của Bộ giáo dục về mục tiêu, nội dung và phương pháp của từng môn học ở các cấp học phổ thông. Tuy nhiên bản “Hướng dẫn học tập” này của Bộ giáo dục rất chung chung và chỉ nêu ra những điểm gợi ý mang tính chất khái quát. Do vậy để tiến hành biên soạn sách SGK các nhà xuất bản phải chủ động và dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu văn bản này và biên soạn nên nội dung của SGK. Thông thường các nhà xuất bản đặt ra kế hoạch dự tính 5 năm sẽ đổi mới SGK một lần. Khi chuẩn bị đổi mới SGK thì nhà xuất bản sẽ tổ chức ra Hội đồng biên tập. Hội đồng này gồm nhân viên của nhà xuất bản (thường là 2, 3 người), các nhà nghiên cứu ở đại học, các nhà sử học, các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông, các giáo viên có liên quan đến giáo dục lịch sử. Công việc biên soạn một cuốn SGK lịch sử sẽ bắt đầu bằng việc tạo ra đề mục của SGK. Khi chế tạo đề mục (đề cương) của SGK, Hội đồng biên tập sẽ đối chiếu mục tiêu, phạm vi nội dung, cấu tạo của SGK với bản “Hướng dẫn học tập”. Sự đối chiếu này có tính toán đến tổng thể và sự phân bố dung lượng từng nội dung. Khảo sát thực tế thì thấy những cuốn sách trượt vòng “kiểm định” của Bộ giáo dục là những cuốn “rời xa” cái khung của bản “Hướng dẫn học tập”. Mặc dù vậy, do bản thân bản “Hướng dẫn học tập” chỉ  là những gợi ý khái quát cho nên nội dung cụ thể của cuốn sách phải do Hội đồng biên soạn quyết định. Sau khi các đề mục được quyết định, công việc tiếp theo sẽ là phân công các tác giả đảm trách từng nội dung cụ thể. Từ đây, Hội đồng biên soạn sẽ hoạt động tích cực với các cuộc họp bàn về nội dung cần sửa đổi trên cơ sở rút kinh nghiệm từ cuốn SGK trước đó, dư luận xã hội và yêu cầu sửa đổi đặt ra. Các vấn đề như : độ dễ khó của nội dung, cách thức biểu hiện, diễn đạt nội dung, sử liệu, nội dung trọng tâm, sự lựa chọn các chủ đề sẽ trở thành trung tâm của các cuộc tranh luận. Trước khi SGK mới được đưa vào sử dụng khoảng 2 năm, nhà xuất bản sẽ dành hơn một năm để làm bản thảo và sau đó in, đăng kí xin kiểm định[4] với bộ giáo dục.

Sách giáo khoa môn Xã hội (Lịch sử) lớp 6-lớp cuối tiểu học của Nhật Bản.

Bài đầu tiên trong sách môn Xã hội lớp 6: “Tiếp nhận lịch sử, khai mở tương lai”.

REPORT THIS AD

 

  1. Kiểm định

Bộ giáo dục tiến hành kiểm tra, thẩm định các bản thảo được đăng kí và đưa ra quyết định nó có được trở thành SGK hay không. Thủ tục thẩm định được xác định bởi “Quy tắc kiểm định sách giáo khoa” và bản “Hướng dẫn học tập”. Những văn bản này đều được đăng tải công khai. Đảm nhận công việc này là Hội đồng thẩm định SGK do Bộ giáo dục thành lập. Hội đồng này thường bao gồm các viên chức của Bộ giáo dục, nhân viên thẩm định do Bộ chỉ định từ các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông và đại học với số lượng khoảng vài trăm người. Các buổi thảo luận để đưa ra quyết định của Hội đồng được tiến hành công khai. Theo thông lệ, kết luận của Hội đồng thẩm định sẽ được đưa ra vào tháng 11 cùng năm tiếp nhận đăng kí. Trong trường hợp cuốn sách được công nhận là SGK, thông báo trúng tuyển sẽ được  gửi ngay tới Nhà  xuất bản. Tuy nhiên trên thực tế thì phần lớn các cuốn sách đăng kí không được Hội đồng thẩm định chấp nhận nguyên văn như đăng kí mà Hội đồng sẽ bảo lưu quyết định và yêu cầu sửa chữa. Đối với các trường hợp không đạt, Hội đồng phải đưa ra thông báo công khai. Trong trường hợp này, nhà xuất bản đăng kí có quyền phản biện ý kiến thẩm định và yêu cầu được tái thẩm định. Đối với các trường hợp bảo lưu quyết định như đã nói, Hội đồng thẩm định sẽ chuyển đến từng nhà xuất bản một văn bản trình bày các điểm yêu cầu sửa chữa có tên gọi “Văn bản về ý kiến thẩm định”. Một thành viên của Hội đồng thẩm định sẽ trực tiếp trao văn bản này cho nhà xuất bản kèm theo lời giải thích trực tiếp.

Nhà xuất bản có quyền yêu cầu tranh luận với Hội đồng thẩm định về ý kiến thẩm định. Tuy nhiên trong phần lớn các trường hợp các nhà xuất bản sau khi thảo luận nội bộ về ý kiến thẩm định sẽ đưa ra “Biên bản sửa chữa”. Về lý thuyết có thể xảy ra sự đối lập gay gắt giữa ý kiến của nhà xuất bản-tác giả với Hội đồng thẩm định nhưng các ý kiến thẩm định trong thực tế chủ yếu là các yêu cầu sửa chữa những nhầm lẫn sự kiện khách quan, sai sót về kí hiệu, sự mập mờ, khó hiểu trong diễn đạt. Sau khi xem xét lại bản thảo đã sửa chữa do nhà xuất bản đưa ra, Hội đồng thẩm định sẽ đưa ra thông báo cuối cùng quyết định bản thảo đăng kí có trở thành SGK hay không. Thông báo trúng tuyển sẽ được đưa ra dưới danh nghĩa của Bộ trưởng Bộ giáo dục.

Trong quá trình thẩm định để đưa ra quyết định bản thảo đăng kí có trúng tuyển trở thành SGK hay không, Hội đồng thẩm định dựa phần lớn vào các tiêu chuẩn được quy định trong “Tiêu chuẩn kiểm định sách giáo khoa trong các trường thuộc giáo dục nghĩa vụ”. Các tiêu chuẩn này có thể tóm tắt lại như sau:

(1) Về phạm vi và mức độ: không thiếu, không vượt qua mà vừa đủ với Bản “hướng dẫn giảng dạy”.

(2) Về tuyển chọn nội dung,  tổ chức phân bố nội dung:

  1. Có tham khảo bản  “Hướng dẫn học tập”, có cân nhắc tránh sự không phù hợp về nội dung, không chú ý đến các giai đoạn phát triển của học sinh.
  2. Không thiên vị, không mang tính chất đảng phái về tôn giáo, chính trị.
  3. Cần có sự dung hòa xét ở phạm vi tổng thể không quá thiên về sự việc, hiện tượng,  lĩnh vực cụ thể nào.
  4. Không đưa ra nội dung thể hiện sự thiếu cân nhắc đầy đủ và thể hiện sự kiến giải phiến diện.
  5. Có sự phù hợp về phân lượng, phân bố nội dung và mối quan hệ của toàn thể.

REPORT THIS AD

  1. Do SGK được phát miễn phí cho học sinh nên cần chú ý đến dung lượng để đảm bảo giá của SGK ở mức hợp lý, tiết kiệm ngân sách.

(3) Tính chính xác, kí hiệu, năng lực biểu hiện là các điểm tập trung chú ý nhất của việc thẩm tra, kiểm định.

Bên cạnh đó, riêng đối với quy trình kiểm định liên quan tới môn Xã hội còn có thêm các mục sau áp dụng cho cả SGK tiểu học và trung học cơ sở:

(1) Không viết một cách chắc chắn về các hiện tượng mang tính thời sự chưa xác định.

(2) Khi đưa ra các hiện tượng lịch sử cận hiện đại về các quốc gia châu Á lân cận thì cần chú ý đến sự cân nhắc cần thiết từ quan điểm về sự hợp tác và lý giải quốc tế.

(3) Khi trích dẫn các sách, sử liệu cần sử dụng thứ có độ tin cậy cao, và sử dụng một cách công bằng. Khi trích dẫn cần tôn trọng bản gốc.

(4) Về năm tháng lịch sử Nhật Bản thì đối với  những mốc quan trọng  cần ghi cả niên hiệu và dương lịch.

  1. Tuyển chọn

Các SGK lịch sử sau khi vượt qua vòng thẩm định sẽ được tuyển chọn đưa vào sử dụng. Các trường THPT và các trường tiểu học, THCS công lập có thể lựa chọn SGK từ danh sách các SGK đã qua kiểm định theo quy mô trường. Các trường tiểu học, THCS của các tỉnh, thành phố, làng thì tuyển chọn SGK theo khu vực quy định. Tính ở thời điểm năm 2011 trên toàn nước Nhật được phân chia làm 582 khu vực tuyển chọn SGK. Mỗi khu vực này sẽ chọn chung một bộ sách giáo khoa. Quy trình tuyển chọn SGK được tiến hành như sau:

Thứ nhất, từng đơn vị hành chính như “đô, đạo, phủ, tỉnh”[5] lập ra Hội đồng tuyển chọn SGK. Thành viên của Hội đồng này là các hiệu trưởng, các ủy viên ủy ban giáo dục, những người có học vấn cao. Hội đồng sẽ ủy nhiệm cho một số thành viên biên soạn tư liệu tham khảo làm căn cứ thẩm tra, tiến hành tư vấn cho các thành viên khác… Có thấy rằng nếu như quá trình kiểm định phản ánh ý chí của Bộ giáo dục thì quy trình tuyển chọn sách giáo khoa phản ánh được ý nguyện của phụ huynh, người dân và học sinh.

Kết luận

Sự chuyển đổi từ “chế độ SGK quốc định” sang “chế độ SGK kiểm định” ở Nhật Bản là một trong những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách giáo dục sau năm 1945. Mặc dù còn một vài vấn đề còn tồn tại và tranh luận xung quanh chế độ kiểm định SGK lịch sử Nhật Bản nhưng trên thực tế nó đã phát huy được hiệu quả tích cực. Cơ chế thực hiện một chương trình khung (bản “Hướng dẫn giảng dạy”) của Bộ giáo dục và nhiều bộ SGK đã tạo ra nhiều “khoảng trống” cho các tác giả SGK và các giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông sáng tạo, phát hinh tinh thần độc lập tự chủ. Nhờ vậy, các giáo viên trực tiếp giảng dạy đã tạo ra vô vàn các “thực tiễn giáo dục” phong phú góp phần tạo nên những người công dân ưu tú của xã hội “Hòa bình, dân chủ, tôn trọng con người”.

Hà Nội, 4/2013

Nguyễn Quốc Vương

Tài liệu tham khảo

1.文部科学省、中学校学習指導要領 平成20年3月告示

2.文部科学省、小学校学習指導要領 平成20年3月告示

3.小学校社会6上、教育出版、平成13年1月31日検定済

4.http://law.e-gov.go.jp/htmldata/S31/S31HO162.html

5.http://www.mext.go.jp/a_menu/shotou/kyoukasho/kentei/021201.htm

6.http://www.nippon.com/ja/in-depth/a00701/

[1] “Hòa bình”, “dân chủ”, “tôn trọng” con người là ba nguyên lý nền tảng của Hiến pháp Nhật Bản 1946 thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản 1889 dưới thời Minh Trị.

[2] Cả nước sử dụng một bộ sách giáo khoa lịch sử duy nhất do nhà nước biên soạn, phát hành.

[3] Văn bản của Bộ giáo dục ban hành gợi ý về  nội dung và cách thức tổ chức học tập ở trường phổ thông.

[4] “kiểm định” có hàm nghĩa kiểm tra và thẩm định.

[5] Nước Nhật chia thành 47 đô, đạo, phủ tỉnh ( 1 đô: Tokyo; 2 phủ: Kyoto, Osaka, 44 tỉnh).

 


Cũ hơn Mới hơn