Môn Xã hội và Kiểm tra

 

Tiếng nói của học sinh

“Em thích lịch sử, thích xem phim lịch sử. Nhưng lịch sử trong môn Xã hội phải nhớ nhiều nên rất ghét”, “Vì môn Xã hội hay Lịch sử, Công dân là môn học thuộc nên nếu không ghi nhớ thì không kiếm được điểm”-hai ý kiến này là ý kiến đánh giá của đông đảo học sinh đối với môn Xã hội. Mặc dù trong giờ học đã xuất hiện các công phu sáng tạo đa dạng, sử dụng các phương pháp như là debate, thảo luận, trải nghiệm nhưng ở phần cuối vẫn duy trì kiểm tra giống như phần còn sót lại của cái cũ. Xu hướng này xuất hiên liên tục từ tiểu học, THCS đến THPT và tăng theo cấp học. Vì vậy cái nhìn cho rằng môn Xã hội là môn ghi nhớ đã định hình.

 Tình hình ở trường trung học cơ sở

Dưới đây là bản tóm tắt nội dung chủ yếu kết quả của cuộc nghiên cứu điều tra thu thập và phân tích vấn đề “quan điểm về kiểm tra” đối với giáo viên môn Xã hội ở 511 trường THCS tư thục trên toàn quốc (tỉ lệ trả lời là 31.9%) (Koike Toshio và các tác giả khác “Kiểm tra trong môn Xã hội THCS: hiện trạng và vấn đề”, “Tài liệu điều tra” 159, viện nghiên cứu giáo dục tư thục Nhật Bản, tháng 3 năm 1991).

(1) Mục đích tiến hành điều tra định kì là :

1, Xem xem tri thức về các nội dung cơ bản như tên đất, tên người đã được định hình chưa.

2, Biết được mức độ lý giải nội dung học tập, điều chỉnh phương châm chỉ đạo

3, Thu thập dữ liệu đánh giá thành tích định kì.

(2) HÌnh thức của kiểm tra thể hiện ở ba dạng là : “điền vào chỗ trống”, “trả lời ngắn”, “lựa chọn đáp án đúng”. Kiểm tra chủ quan (viết luận) cũng được 70% giáo viên sử dụng nhưng trên 2/3 số đó đều đưa ra giới hạn nhất định như giới hạn số chữ, phương pháp, phạm vi và chủ yếu là các câu văn ngắn.

(3) Khi chế tác câu hỏi giáo viên có tham khảo các tập câu hỏi được bán trên thị trường, các vấn đề đã ra trong quá khứ, có gần nửa trong số đó là lấy từ tài liệu tham khảo nhưng  nói chung cũng có khoảng 1/3 giáo viên “hầu như không sử dụng” và việc sử dụng các câu hỏi tự chế theo ý đồ giờ học của riêng mình là hiện tượng phổ biến.

(4) Nhiều giáo viên cho rằng mặc dù muốn tránh việc đưa ra các câu hỏi “đúng-sai” hay đưa ra câu hỏi về lựa chọn năm tháng nhưng lại lo sợ chuyện thi cử nên không thể bỏ qua. Bản thân cũng nghiên cứu về kiểm tra ở dạng thức mơ ước nhưng kết quả là khó phát huy được cá tính của học sinh nên kết quả dẫn đến xu hướng quá nhấn mạnh vào tri thức.

 

Khắc phục các vấn đề đặt ra

 

Mục đích đầu tiên của các giáo viên khi tiến hành kiểm tra là “xem xem các tri thức cơ sở, cơ bản đã được xác lập hay chưa”. Các tri thức thúc đẩy và nâng đỡ tư duy cần cho cuộc sống, và nó cần phải được lặp đi lặp lại qua các bài kiểm tra. Không thể nói rằng tất cả các tri thức đều xấu và vô dụng. Tuy nhiên cần phải nghiên cứu, tuyển chọn chúng nghiêm ngặt và nên thu hẹp chúng trong môn Xã hội theo công thức 3R. Để nắm được dòng chảy của lịch sử thì các tri thức về phân kỳ thời đại với tư cách là cái khung lớn là cần thiết nhưng việc ghi nhớ niên biểu lịch sử chi tiết là không cần thiết. Nếu như không  vừa hấp thụ tri thức với số lượng lớn vừa đọc hiểu ý nghĩa lịch sử từ đó và gắn với việc tạo ra quan điểm lịch sử thì việc học tập môn Xã hội chẳng qua cũng chỉ là việc ghi nhớ tri thức phục vụ thi cử.

Nếu như quá coi trọng các tri thức cơ sở, cơ bản và liên tục mở rộng “cái này, cái kia” thì môn Xã hội sẽ rơi vào cái hố của việc giáo dục nên “năng lực ghi nhớ-năng lực chịu đựng”. Các kiến thức cơ sở, cơ bản chỉ cần đóng vai vai trò giống như bộ xương trong cơ thể là đủ.

 

Phương hướng đổi mới kiểm tra

 

Điều tiên quyết là phải thoát ra khỏi quan niệm truyền thống cho rằng kiểm tra là để đo đạc tri thức với tư cách như  là kết quả học tập. Bỏ qua một bên việc nhắm đến đo đạc triệt để kiến thức cơ bản, cơ  sở thì người giáo viên nên bắt đầu từ việc loại bỏ các vấn đề như “nếu ghi nhớ thì sẽ trả lời được”, “nếu như không biết thì sẽ không làm được”. Ở các bài kiểm tra tạo nên phản ứng thụ động, cố định như “ghi nhớ-biết” sẽ không có  khả năng đạt được mục đích của môn Xã hội trong thế kỉ XXI là “ năng lực sống-tự mình nhìn rõ hiện thực và tương lai, suy nghĩ chín chắn để đưa ra sự phê phán, sống theo kết luận được đưa ra và tự mình tiếp nhận kết quả đó, cho dù thất bại cũng không đầu hàng hay từ bỏ mà tiếp tục lái giải quyết, năng lực vừa biết thừa nhận sự đa dạng, khác biệt của con người vừa biết chung sống, cùng sinh tồn với cộng đồng trên toàn cầu cùng thời đại với tư cách là con người”.

Cần phải có cái nhìn coi tình huống đưa ra bài kiểm tra cũng là một nơi để học sinh học tập. Cần huấn luyện cho học sinh tư duy “đọc-nghĩ-viết” trong quá trình kiểm tra, khuyến khích tư duy sử dụng các kĩ năng, tri thức đã học trong giờ học. Ở đó sẽ làm cho học sinh thật sự trải nghiệm tri thức nào là cần thiết, tri thức nào cần được vận dụng. Việc đánh giá kết quả cũng không được dừng lại ở việc xử lý số lượng mang tính hình thức.

Dưới đây là cách thức hiện tồn của bài kiểm tra mong muốn

(1) Cảnh giác tối đa với xu hướng thiên về “hình thức kiểm tra tái hiện ghi nhớ” với các tri thức kiểu trường học, các sự kiện. Không được dừng lại ở việc xem xem học sinh có được bao nhiêu tri thức mà còn phải đưa ra câu hỏi để biết được chất lượng của tri thức và tính di động của nó.

(2) Cần tiến hành kiểm tra khi có thể “tóm tắt học tập, xác nhận lại học tập” sau một thời gian học tập nhất định đồng thời tạo ra động lực để học cái mới.

(3) Tài liệu, tư liệu  cần phải được sử dụng như là thứ để học sinh phải “đọc kĩ”, “suy nghĩ”, phải là “thao tác cần thiết” để tìm ra câu trả lời. Cũng cần sử dụng các phim ảnh, phương tiện truyền thông để đưa ra vấn đề hoặc minh họa cho câu trả lời.

(4) Cần phải biến kiểm tra trên giấy không chỉ là công cụ đo tri thức mà còn là thứ đo đạc được mối quan tâm, hứng thú của học sinh.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch  từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)