MÔN XÃ HỘI THEO CHỦ NGHĨA KHOA HỌC


  1. Từ nguyên

Thuật ngữ này xuất hiện từ nửa sau thập niên 50 đến thập niên 60 trong thực tiễn môn Xã hội của phong trào nghiên cứu giáo dục dân sự. Thuật ngữ “Môn Xã hội theo chủ nghĩa khoa học” chỉ ra đặc trưng của lý luận và thực tiễn của những người chủ trương “Kết hợp khoa học xã hội và giáo dục”. Tuy nhiên từ thời điểm này về sau thì người thường xuyên sử dụng thuật ngữ này không phải là những người chủ trương mà là những người đứng trên lập trường phê phán. Cho dù thế nào thì do nhận thức được phong trào hiện đại hóa giáo dục mang tính thế giới, trong giáo dục môn Xã hội ở vào thập niên 60 đã xuất hiện các động thái nhắm đến việc đảm bảo “tính khoa học” trong nội dung giáo dục và “khoa học hóa” giáo dục môn Xã hội.

  1. Bối cảnh thời đại

Bản hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1958 đã phủ định học tập giải quyết vấn đề và học tập theo các tangen của thời hậu chiến sơ kì và chuyển sang học tập hệ thống lấy trung tâm là sự giảng dạy tri thức một cách có hệ thống. Cùng với động thái thiết lập môn “Đạo đức” cùng năm, nó đã làm suy thoái tinh thần của “môn Xã hội sơ kì” trong mục tiêu, nội dung và phương pháp của môn Xã hội. Và do đó chuyển từ “môn Xã hội tổng hợp” vốn tồn tại từ trước đến nay sang thành “môn Xã hội phân hóa” đứng trên hệ thống các môn giáo khoa độc lập như Lịch sử, Địa lý, Pháp luật, Kinh tế, Xã hội và lần đầu tiên việc tăng cường thống chế nội dung giáo dục được thể hiện bằng thông báo công. Trước tình hình này, những người xúc tiến nghiên cứu môn Xã hội của các đoàn thể nghiên cứu giáo dục dân sự đã đề xướng phương án đưa vào nội dung giáo dục thành tựu của khoa học xã hội và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học sinh học tập từ hiện thực xã hội mà học sinh đang sống. Tháng 1 năm 1959 (năm Showa 34) tại buổi họp của Công đoàn giáo chức Nhật Bản (Nikkyoso) vấn đề “Nghiên cứu môn Xã hội” đã được đặt ra. Đối kháng với Bản hướng dẫn học tập năm 1958, trong thực tiễn môn Xã hội của phía phong trào nghiên cứu giáo dục dân sự đã diễn ra phong trào tự chủ biên soạn nội dung giáo dục.

  1. Lý luận môn Xã hội của Ban phụ trách môn Xã hội trực thuộc Hội nghiên cứu khoa học giáo dục

Tổ chức nhiệt tâm nhất với tư tưởng “khoa học hóa môn Xã hội” là Ban phụ trách môn Xã hội của Hội nghiên cứu khoa học giáo dục, tổ chức được thành lập vào năm 1963. Ban này chủ trương trong khi biên soạn nội dung môn Xã hội thì cụ thể hóa “sự kết hợp giữa khoa học và giáo dục” và chủ trương giáo dục nhận thức xã hội mang tính khoa học cho học sinh trong giờ học. Năm 1966, “Lý luận giáo dục môn Xã hội” và “Giờ học môn Xã hội ở trường tiểu học” được xuất bản. Tác phẩm “Lý luận giáo dục môn Xã hội” đã thể hiện tư tưởng về hệ thống chương trình môn Xã hội. Theo đó thì ở cấp tiểu học, môn Xã hội ở các lớp bậc thấp bị loại bỏ, từ lớp 4 đến lớp 6 học Địa lý tự nhiên (từ khái niệm nói chung đến địa lý thế giới và Nhật Bản) và Lịch sử tự nhiên -lịch sử loài người. Ở cấp THCS ở năm thứ nhất , thứ hai học Địa lý kinh tế (Nhật Bản và thế giới) và thông sử Nhật Bản, năm thứ ba học Kinh tế-chính trị, từ các lớp bậc cao ở cấp tiểu học cho đến trường THCS có dành một bộ phận thời gian để học các vấn đề thời sự. Ở trường THPT, năm thứ nhất học Lịch sử thế giới, năm thứ hai học Địa lý thế giới (địa lý kinh tế-chính trị) và Địa lý Nhật Bản (học tập giải quyết vấn đề), năm thứ ba học Lịch sử Nhật Bản và Xã hội tổng hợp (học tập giải quyết vấn đề), năm thứ nhất và thứ hai thì bố trí cho học sinh đọc các tác phẩm cổ điển.

Chương trình “Lịch sử loài người” của lớp 5 và 6 cấp tiểu học phân kì lịch sử như sau: thời đại săn bắt hái lượm, thời đại trồng trọt-chăn nuôi, quốc gia cổ đại và thời đại nô lệ, lãnh chúa phong kiến và thời đại nông nô, sản xuất quy mô lớn và người lao động, sự ra đời của quốc gia xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc. Nguyên lý biên soạn nội dung được xác định là “phân tích và tổng hợp”, từ đơn giản đến phức tạp, từ chung đến đặc thù, từ cụ thể đến toàn thể, từ phổ biến đến cá biệt. Tuy nhiên do quá coi trọng việc vận dung nghiêm ngặt nguyên lý tính hệ thống trong nội dung giáo dục nên kết quả dẫn đến là bỏ qua độ rộng của tư duy hay nhận thức của học sinh trong quá trình giờ học.

  1. Lý luận hình thành nhận thức xã hội về lao động sản xuất của Liên minh giáo dục đời sống Nhật Bản.

    Liên minh giáo dục đời sống Nhật Bản từ tháng 1 năm 1960 đã đổi tên tạp chí của mình từ “Curriculum” sang thành “Giáo dục đời sống”. Từ cuối thập niên 50, Liên minh giáo dục đời sống Nhật Bản đề xướng chủ trương đưa nhận thức “lao động sản xuất” làm trục trung tâm của việc biên soạn nội dung giáo dục nhằm giáo dục nhận thức xã hội mang tính khoa học. Đó là tư duy muốn tạo ra lý luận nội dung giáo dục khoa học nhằm xác lập “Tính hệ thống-tính tuần tự” của nội dung giáo dục. Các chương trình của 3 câu lạc bộ thuộc tổ chức này ở Tokyo đã được đăng trên tạp chí “Giáo dục đời sống” và được đưa ra thảo luận.

Hội giáo viên Joetsu đã cho xuất bản hai tác phẩm là “Quá trình giờ học của môn Xã hội lấy trục là lao động sản xuất” (1965) và “Hiện đại hóa giáo dục môn Xã hội lấy trục là lao động sản xuất” (1971). Đây là các nghiên cứu tiêu biểu của liên minh. Hội giáo viên Joetsu đã xác định 5 bước của “các giai đoạn phát triển nhận thức khoa học về lao động sản xuất” trong tác phẩm “Quá trình giờ học của môn Xã hội lấy trục là lao động sản xuất”. Năm bước đó là:
(1) Sản xuất được nâng đỡ bởi lao động (nhận thức sự thật)
(2) Hiện thực lao động rất khắc nghiệt (nhận thức vấn đề)
(3) Nó có thể thay đổi tùy theo điều kiện (nhận thức điều kiện)
(4) Các điều kiện đó phải do mọi người hợp tác tạo ra (nhận thức mang tính chủ thể)
(5) Bằng lao động có giá trị chúng ta có thể nâng cao sản xuất, làm cuộc sống giàu có (nhận thức khoa học).

Với tư cách là các vấn đề có liên quan đến sự xác lập công thức nói trên, trong tác phẩm “Hiện đại hóa” trật tự của nhận thức mang tính chủ thể và nhận thức mang tính khoa học đã được thể hiện theo trật tự ngược lại. Về sau lý luận hình thành nhận thức mang tính giả thuyết này đã được cố định hóa từ nguyên lý khung của biên soạn nội dung giáo dục trở thành nguyên lý nhận thức trong quá trình giờ học cá biệt. Năm bước “nhận thức sự thật-nhận thức vấn đề-nhận thức điều kiện-nhận thức chủ thể-nhận thức khoa học” đã được ứng dụng vào rất nhiều thực tiễn giờ học một cách máy móc.

  1. Vấn đề đặt ra

    Vào thập niên 60, phong trào hiện đại hóa giáo dục nhằm đưa thành quả của khoa học hiện đại vào nội dung giáo dục đã diễn ra và trong môn Xã hội đây cũng là thời kì diễn ra nỗ lực đầu tiên đưa thành tựu của khoa học xã hội vào nội dung giáo dục. Cũng có thể nói đây là thời kỳ có những sai lầm khi tìm kiếm mối quan hệ giữa Khoa học xã hội và môn Xã hội


Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Hội giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, 2000)

 


Cũ hơn Mới hơn