Môi trường và giáo dục lịch sử (1)

Sự chú ý đến môi trường

Trong lịch sử giáo dục lịch sử của nước ta sau chiến tranh thế giới thứ hai,  có hai cơ hội để tiếp cận “môi trường” .

Thứ nhất là sự thịnh hành của lịch sử xã hội từ nửa sau thập niên 70 tới nửa cuối thập niên 80. Trước tình hình du nhập của lịch sử học mới của phái Annal từ Pháp, tình huống bùng nổ lịch sử xã hội đã nảy sinh và trong vai trò là cơ cấu thời gian tiếp cận lịch sử,  “cấu tạo” trong một thời gian dài đã được chú ý hơn “sự kiện” với tư cách là sự biến đổi trong một thời gian ngắn, “địa phương” cũng được coi trọng hơn “quốc gia” trong tư cách là cơ cấu không gian. Môi trường với tư cách là vũ đài lịch sử cũng đã thu hút sự chú ý. Xu hướng này đã từ sử học lan truyền tới giáo dục lịch sử.

Thứ hai, từ nửa sau thập niên 80 trở đi vấn đề môi trường trở nên rất trầm trọng. Trước đó  thông cáo “Giới hạn của tăng trưởng” của Câu lạc bộ Roma đã đưa ra cảnh báo sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và tàn phá môi trường nhưng nói chung ý thức về nguy cơ vẫn còn thấp. Tuy nhiên khi phát hiện ra lỗ thủng ô zôn ở Nam Cực năm 1985 và hội nghị thượng đỉnh toàn cầu năm 1992 khai mạc, mối quan tâm tới môi trường  tăng lên và ở cả giáo dục lịch sử và sử học gần như đồng thời vẫn đề môi trường và lịch sử môi trường đã được chú ý.

Môi trường với tư cách là vũ đài của lịch sử.

Năm 1976 khi Le Goff, nhà sử học người Pháp đến Nhật, bài diễn thuyết có tên “sử học và hiện tại dân tộc học” đã được đăng tải trên tạp chí “Tư tưởng” số 630 làm cho mối quan tâm tới trường phái Annal dâng cao. Nói ngắn gọn thì cho dù nói là phái Annal nhưng phái này cũng rất đa dạng và thay đổi theo thời đại nhưng điểm chung là đều nhằm tới việc tìm kiếm lịch sử xã hội với tư cách là lịch sử toàn thể.

Trong bài diễn thuyết, Goff đã chỉ  ra ba điểm với tư cách là  phương pháp tiếp cận lịch sử toàn thể: (1) tiếp cận lịch sử ở phạm vi thời gian rộng trong một thời gian dài, (2) đặt trọng tâm vào văn hóa vật chất thường ngày, (3) tiếp cận lịch sử từ tầng sâu bên trong chứ không phải bề mặt hiện tượng. Khi định tiếp cận lịch sử với cơ cấu thời gian dài, liên tục thì môi trường đương nhiên rơi vào tầm ngắm. Ví như Braudel, sử gia trước Goff một thế hệ đã viết tác phẩm lớn “Địa trung hải và thế giới địa trung hải thời Henry 2” (sách dịch có tên “Địa trung hải” do Fujihara Shoten xuất bản) đã bắt đầu từ vai trò của môi trường và vẽ nên lịch sử tổng thể của thế giới Địa trung hải thế kỉ 16.

Thêm nữa, khi tiếp cận lịch sử từ đời sống hàng ngày hay từ tầng sâu thì sẽ không tiến hành phương pháp sử học truyền thống lấy cái khung không gian là quốc gia mà cần phải sử dụng phương pháp lấy cơ cấu không gian là các khu vực đa dạng bên trong quốc gia  vượt qua cái khung quốc gia. Ở Nhật Bản thập kỉ 70, trong lĩnh vực lịch sử Nhật Bản vốn không có quan hệ trực tiếp với phái Annal đã diễn ra các nghiên cứu địa phương rất sôi nổi và trở thành nơi đảm nhận tích cực lịch sử xã hội mới của nước ta. Đặc biệt  Amino Yoshiko đã đề xướng “lịch sử các địa phương của quần đảo” thay cho lịch sử quốc gia Nhật Bản để vẽ ra tính đang dạng khu vực của quần đảo Nhật Bản từ tự nhiên (biển, sông, núi) và cuộc sống (“lịch sử Nhật Bản kể từ Đông và Tây”, 1982).

Xu hướng này trong giới sử học đã có ảnh hưởng tới bản Hướng dẫn học tập trường THPT bản năm 1978. Trong giới sử học, khi triển khai học tập vùng văn hóa đã chỉ rõ việc phải con trọng phong thổ và cuộc sống con người. Vì vậy, các sách giáo khoa đã đồng loạt đưa vào địa hình, khí hậu, cuộc sống của từng vùng văn hóa. Bên cạnh đó, “Lịch sử và văn hóa xã hội địa phương” với tư cách là nội dung mới trong lịch sử Nhật Bản đã được thiết lập. Ở đó đưa ra địa phương với tư cách là vũ đài đời sống, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị và mối quan hệ giữa chúng. Khuynh hướng này đang được tiếp nhận ở cả lịch sử thế giới và lịch sử Nhật Bản.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)