Lý luận môn Xã hội sơ kì



1. Phân kì môn Xã hội sơ kì

Môn Xã hội là môn giáo khoa được thiết lập lần đầu tiên ở Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách là thành quả của giáo dục nhắm tới sự phát triển của Nhật Bản mới.

Trong trường hợp nói môn Xã hội sơ kì thì có thể nghĩ rằng nó bao gồm cả các mô hình thực tiễn và triết lý được tạo ra trước khi môn Xã hội được thiết lập một cách riêng rẽ ở các trường tiểu học Fukuzawa thuộc tỉnh Kanagawa, Viện nghiên cứu giáo dục trung ương và các thực tiễn như thực tiễn có tên “Kawaguchi Plan” do Ủy ban môn Xã hội thành phố Kawaguchi tạo nên…

Ở đây sẽ trình bày về môn Xã hội trong khoảng thời gian những năm Showa 20 được ghi trong “Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội I, II” được phát hành vào tháng 5, 6 năm 1947 (năm Showa 22) (Bản hướng dẫn dành cho các môn giáo khoa tự chọn của môn Xã hội THPT được phát hành vào tháng 7-10 cùng năm) và từ tháng 9 cùng năm trở đi sau khi giờ học được bắt đầu trên toàn quốc, trải qua quá trình sửa đổi Bản hướng dẫn học tập năm 1951 (năm Showa 26) nó đã chuyển đổi từ coi trọng tính hệ thống của tư duy học sinh sang coi trọng tính hệ thống của nội dung giáo dục trong Bản hướng dẫn học tập sửa đổi lần 2 năm 1955 (năm Showa 30).

2. Sự giác ngộ về nhân quyền cơ bản.

Nếu như nói một cách ngắn gọn về lý luận của môn Xã hội sơ kì thì có thể nói đó là giáo dục đảm bảo việc tiến hành giải quyết mang tính chủ thể các vấn đề thiết thực tương thích với tư duy của học sinh.

Đó là do nó xuất phát từ sự “giác ngộ về nhân quyền cơ bản”. Tóm lại, từ sự phản tỉnh rằng “nếu nhìn và suy ngẫm về cuộc sống của quốc dân nước ta trước đó thì thấy sự tự giác với tư cách là con người của từng cá nhân, niềm hi vọng mong muốn có được cuộc sống thật sự là người do bị đè nén bởi yêu cầu mang tính bên ngoài của quốc gia và gia đình mà đã không đạt được”, đã đi đến tư duy: “nếu như biết duy trì sự độc lập của bản thân, biết hưởng thụ cuộc sống thực sự là người (lược một đoạn) thì có thể lý giải được mối quan hệ cùng tồn tại của cuộc sống của người khác và có thể có được ý chí mãnh liệt muốn làm cho cuộc sống của mình trở nên tốt đẹp hơn” (trích dẫn từ Bản hướng dẫn học tập năm 1947).
Khi biên soạn Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội dành cho trường tiểu học, Shigematsu Katsuya đã viết rằng môn học nhắm tới : “con người không bị đánh lừa bởi đám đông thời thế”, “con người không bị mê hoặc bởi sự tuyên truyền dối trá, không những không xâm phạm người khác mà còn chủ động mở rộng một cách tích cực những điều mình nghĩ là tốt đẹp ra xung quanh” (“Phương pháp giáo dục môn Xã hội”, Seibundoshinkosha, 1955). Có thể thấy ở đây sự phản tỉnh về giáo dục trước chiến tranh và triết lý giáo dục nên những chủ thể giác ngộ về nhân quyền cơ bản có khả năng kiến thiết xã hội dân chủ.

3. Học tập với trung tâm là giải quyết các vấn đề thiết thực của bản thân

Chủ thể này giả sử như tiếp nhận nội dung giáo dục dựa trên thành tựu của khoa học đi chăng nữa nhưng nếu như tiếp thu thụ động thì cũng có nguy cơ không sinh ra tinh thần phê phán và có khả năng tạo ra con người chỉ tin vào sự thật được tạo ra từ quyền uy của người giáo viên. Tóm lại việc tạo nên những học sinh biết bài trừ sự nhồi nhét tri thức, có ý chí không khuất phục trước bất cứ quyền uy nào, không chấp nhận bất cứ cái gì không có sức thuyết phục và tự mình tìm ra đường đi là vô cùng quan trọng. Không phải việc thấy tri thức hay của người khác, tiếp nhận nó vô điều kiện và lấy nó làm tư duy của mình mà coi trọng việc trong các tri thức đã có học sinh phải lấy các tri thức cần thiết cho việc tạo ra tư duy của mình. Không phải cứ nói vì tương lai mà tiếp nhận các tri thức một cách phê phán mà phải tiếp nhận thứ mà bản thân hiện thời cho là cần thiết, thuyết phục và chính trong quá trình làm đầy đủ nó mà con người mang tính chủ thể “không bị dẫn dụ bởi đám đông thời thế” được hình thành và nó trở thành sức mạnh cần thiết đối với đời sống xã hội tương lai.

Do đó, môn Xã hội sơ kì đã đưa ra các vấn đề thiết thực với trẻ em một cách trực diện và trong quá trình đi giải quyết cùng nhau các vấn đề đó, việc giáo dục các năng lực nói trên sẽ trở thành cơ sở của việc học tập.

4. Xúc tiến học tập tổng hợp

Khi xúc tiến học tập với trung tâm là giải quyết các vấn đề thiết thực của trẻ em, đương nhiên nảy sinh việc cần phải có các tri thức, kĩ thuật bên ngoài môn Xã hội. Khi học tập về nông nghiệp, không thể thiếu được sự học tập về lĩnh vực khoa học như nuôi trồng thực vật, sâu bệnh hại… Những thứ đó được tìm kiếm qua sách, hoạt động đọc, ghi chép thuộc về lĩnh vực quốc ngữ, việc thể hiện kết quả tìm kiếm được thuộc về lĩnh vực thủ công, đọc hiểu số liệu thống kê thuộc về lĩnh vực số học và tổng hợp các công việc đó học sinh sẽ có khả năng giải quyết được vấn đề. Triết lý coi trọng tính tổng hợp này được nhất quán cho đến năm thứ nhất THPT.

5. Đảm bảo tự do biên soạn chương trình.

Môn Xã hội được coi như là trung tâm của toàn bộ khóa trình giáo dục và để đảm bảo cho việc học tập không cần tuân thủ cái khung giáo khoa, sự phân bố thời gian dành cho môn này tương đối nhiều. Ở tiểu học lớp 1, 2: 4 tiết; lớp 3, 4: 5 tiết; lớp 5, 6: 5-6 tiết, ở năm thứ nhất THCS: 5 tiết; năm 2, 3: 4 tiết (Bản hướng dẫn học tập năm 1947).

Thêm nữa Bản hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1947-1951 được công bố dưới hình thức là “tham khảo” cho nên không có sự bó buộc về phân phối thời gian và nội dung giáo dục, ở hiện trường giáo dục chương trình được biên soạn một cách tự do.

6. Sự phê phán môn Xã hội sơ kì và sự tiếp diễn về sau

Đối với môn Xã hội sơ kì đã xuất hiện nhiều sự phê phán. Xuất phát từ lập trường cải cách người ta cho rằng “trong học tập lấy trung tâm là học sinh, việc giáo dục tri thức khoa học là bất khả, nó chỉ là chủ nghĩa cải lương xã hội”. Những người đứng ở lập trường bảo thủ thì cho rằng “nó quá nhấn mạnh hòa bình, dân chủ. Thêm nữa nó cũng tạo ra sự suy giảm của học lực”.

Vào năm 1955 chỉ có Bản hướng dẫn học tập môn Xã hội được sửa đổi. Phương hướng xúc tiến dân chủ, hòa bình với trụ cột là môn Xã hội sơ kì đã trở nên yếu đi, và nó chuyển sang giáo dục một cách có hệ thống các tri thức.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)


Cũ hơn Mới hơn