Lý luận hệ thống thế giới


 

Lý luận hệ thống thế giới là gì?

Sự xuất hiện của Paradim nhằm cơ cấu lịch sử thế giới đối ứng với thời đại toàn cầu hóa đã thay thế cho Paradim cơ cấu lịch sử thế kỉ 19 thống hợp hai quan điểm lịch sử: (1) quan điểm lịch sử lấy “quốc gia dân tộc” làm nền tảng cơ cấu của lịch sử và kết hợp lịch sử thế giới với lịch sử quốc gia; (2) quan điểm lịch sử tiến bộ cho rằng quốc gia nào cũng có tính phát triển, tiến bộ theo cùng một hướng và các nước Đông Tây đứng ở hai bờ thái cực đó. Sự thay thế ấy chính  là “lý luận hệ thống thế giới” nhằm nắm vững thế giới hiện tại.  Đây là hệ thống  được lập nên từ cơ cấu “trật tự và mô hình” hoặc là với tư cách là sự phức hợp của các hệ thống. Đại diện tiêu biểu của lý luận này là Wallerstein, Boulding.  Đặc biệt  lý luận của Wallerstein từ sau thập niên 80 đã có ảnh hưởng lớn tới sử học và “giáo dục lịch sử thế giới” ở Nhật Bản.

Lý luận hệ thống thế giới của Wallerstein

Wallerstein, nhà xã hội học nghiên cứu xã hội hiện đại châu Phi trong quá trình làm rõ sự thống hợp quốc dân và sự kém phát triển của châu Phi đã đặt ra câu hỏi nghi ngờ đối với các khái niệm như “tăng trưởng”, “khai phát” và phê phán mạnh mẽ xu hướng của phái Annals của Pháp đặc biệt là  khái niệm “phát triển bền vững”, “cơ cấu” của Braudel, khái niệm “thế giới kinh tế” với tư cách  là “thể chế phân chia công việc khổng lồ bao hàm vô số văn hóa và hệ thống chính trị” và “phái phong kiến” cho rằng xã hội thuộc địa là chế độ phong kiến, kết hợp với lý luận phụ thuộc của Frank cho rằng sự phồn vinh của chính quốc và sự nghèo đói của thuộc địa giống như hai mặt của đồng xu để tạo ra cấu trúc “lý luận hệ thống thế giới” một cách sáng tạo.

Trong tác phẩm “Hệ thống thế giới cận đại” xuất bản năm 1974 (được dịch ở Nhật năm 1981), Walllerstein đã chia hệ thống trong lịch sử thế giới thành “hệ thống nhỏ” đứng một mình kiểu tự cung tự cấp và “hệ thống thế giới”. “Hệ thống thế giới” lại được chia thành “đế quốc thế giới”với sự “cống nạp” và tập trung thặng dư vào bộ phận trung tâm do các cơ quan quan liêu tiến hành sau đó tái phân phối và “kinh tế thế giới” nơi dựa trên sự tăng trưởng của hệ thống. “kinh tế thế giới này” là “hệ thống thế giới”.

Thể chế phân chia quốc tế có quy mô lớn sinh ra với trung tâm là Tây Âu (hệ thống thế giới cận đại) có thời kì thứ nhất là thế kỉ 16. Với tư cách như là sự đối phó với “chế độ phong kiến” sự mở rộng địa lý của thể chế phân chia thế giới đã được thực thi dưới hình thức “phát kiến địa lý”. Tây Âu “trung tâm” đã coi Mĩ La tinh là ngoại vi và Đông Âu là bán ngoại vi tạo nên “hệ thống phân chia thế giới” giàu có. Tức là tạo ra “hệ thống thế giới cận đại”. Ở “ngoại vi” , “bán ngoại vi”, hình thái lao động mang tính cưỡng bức trở thành chủ lưu. Hệ thống này với chu kì khoảng 1 thế kỉ đã vừa biến đổi vừa tiếp tục mở rộng, tăng trưởng và cuối cùng tạo nên hệ thống bao phủ toàn cầu như hiện nay.

 

 

Thời kì thứ hai bắt đầu từ “nguy cơ nói chung của thế kỉ 17”. Đây là thời kì thu gọn hệ thống thế giới và sự tranh chấp giữa các nước Tây Âu do sự hình thành đế quốc  (tranh nhau thuộc địa) và chính sách trọng thương, tạo ra  đế chế lũng đoạn thế giới áp đảo các nước trung tâm khác ở các phương diện tài chính, sản xuất, vận tải. Đó chính là Hà Lan thế kỉ 17.

Năm 1763,  nước Anh, nước nắm bá quyền đối với hệ thống thế giới mới được tạo ra từ hiệp định Pari sau chiến tranh 7 năm đã  tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới, tái cấu cúc lại sự phân chia quyền lợi ( thời đại chủ nghĩa tư bản công nghiệp) và làm mới hệ thống thế giới. Từ đó về sau hệ thống thế giới thứ ba do nhu cầu tìm kiếm nguyên liệu công nghiệp đã biến các nước chưa nằm trong hệ thống như Nga, Thổ Nhĩ Kì, Tây Phi,, Ấn Độ, Trung Quốc và các khu vực khác thành “vùng ngoại vi” và mở rộng phạm vi địa lý của hệ thống. Duy có Nhật Bản trở thành ngoại lệ khi không bị trở thành “ngoại vi”.

Đến cuối thế kỉ 19, công nghiệp của các quốc gia trung tâm trở nên có quy mô lớn và xuất hiện các nước mới nổi lên là Mĩ và Đức. Wallerteincho rằng thời điểm cách mạng Nga diễn ra, cũng là thời điểm “hệ thống thế giới đình trệ”, “thời đại đại hỗn loạn do cách mạng” là hệ thống thế giới thời kì thứ 4 nhưng rồi kết cục Mĩ trở thành nước số 1 và các nước xã hội chủ nghĩa cũng không thoát ra khỏi hệ thống thế giới. Cuối thế kỉ 20 là thời kì quyền lực của Mĩ suy giảm (post-America) nhưng đó là sự di động của quyền lực, sự tái cơ cấu quyền lực hay đó là sự đi tới diệt vong của quyền lực thì Wallerstein lại chỉ đưa ra sự đoán định mập mờ.

Ý nghĩa của lý luận hệ thống thế giới.

Lý luận hệ thống thế giới của Wallerstein có ý nghĩa lớn trong việc đả phá quan điểm lịch sử lấy Tây Âu làm trung tâm-quan điểm vốn được xây dựng dựa trên thuyết phát triển giai cấp đơn tuyến dựa trên quan điểm sử học tiến bộ đơn giản và khái niệm cơ bản như “quốc gia dân tộc”, “kinh tế dân tộc”. Tóm lại, ông đã nhấn mạnh rằng các thuộc địa và chính quốc đều có chung “thời đại” trong thể chế phân chia quyền lợi vì thế mà cần phải phân tích mối quan hệ giữa chúng thay vì “so sánh” từ góc độ Tây Âu. Nếu đứng trên lập trường như thế thì có thể nắm được một cách tổng hợp, đa góc độ từ quan điểm hiện đại quá trình hình thành, phát triển và trưởng thành của chủ nghĩa tư bản thế giới. Với tư cách là lý luận cấu thành lịch sử cận-hiện đại, thích hợp với thời đại toàn cầu hóa đang tiến triển, lý luận hệ thống thế giới đang có ảnh hưởng lớn đối với giáo dục “Lịch sử thế giới”.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội”