LUẬT GIÁO DỤC CƠ BẢN


 LUẬT GIÁO DỤC CƠ BẢN

(Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006)

Lời nói đầu

Quốc dân Nhật Bản chúng ta mong ước sẽ làm phát triển thêm  quốc gia văn hóa và dân chủ được xây dựng nên từ nỗ lực không ngừng đồng thời góp phần cống hiến cho hòa bình thế giới và nâng cao phúc lợi nhân loại.
Để thực hiện lý  tưởng này, chúng ta sẽ xúc tiến nền giáo dục coi trọng sự tôn nghiêm cá nhân, truy tìm chính nghĩa và chân lý, tôn trọng tinh thần công cộng, nhắm tới giáo dục con người có tính sáng tạo và tính người phong phú, kế thừa truyền thống và sáng tạo nên văn hóa mới.

Ở đây, chúng ta dựa trên tinh thần của Hiến pháp Nhật Bản  để chế định nên bộ luật này nhằm xác lập nền tảng của giáo dục tiến tới chấn hưng và mở ra tương lai của đất nước.

 

Chương I. Mục đích và triết lý giáo dục

 

Mục đích

 

Điều 1.  Giáo dục phải nhằm hoàn thiện nhân cách con người và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội-quốc gia hòa bình và dân chủ.

Mục tiêu giáo dục

Điều 2. Giáo dục để thực hiện mục đích nói trên phải tôn trọng tự do học thuật đồng thời phải đạt cho được những mục tiêu sau:

a. Trang bị văn hóa và tri thức rộng rãi, giáo dục thái độ truy tìm chân lý, nuôi dưỡng đạo đức và tình cảm phong phú đồng thời rèn luyện thân thể khỏe mạnh.

b. Tôn trọng giá trị cá nhân, mở rộng năng lực cá nhân, nuôi dưỡng tính sáng tạo và tinh thần tự lập, tự chủ đồng thời coi trọng mối quan hệ với nghề nghiệp và cuộc sống, giáo dục thái độ tôn trọng lao động.

c. Tôn trọng chính nghĩa và trách nhiệm, bình đẳng nam nữ, tôn kính và hợp tác lẫn nhau đồng thời giáo dục thái độ tham gia vào xây dựng xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội một cách chủ thể dựa trên tinh thần công cộng.

d.  Có thái độ  tôn trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường.

e. Có thái độ tôn trọng truyền thống và văn hóa, yêu mến quê hương và đất nước chúng ta nơi đã nuôi dưỡng những thứ ấy đồng thời giáo dục thái độ tôn trọng nước khác, đóng góp vào hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế.

Triết lý học tập suốt đời

Điều 3. Cần phải nhắm tới thực hiện xã hội ở đó từng quốc dân có thể mài giũa nhân cách bản thân và có cuộc đời phong phú, có thể học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong suốt cuộc đời mình và có thể vận dụng thích hợp những thành quả đó.

Bình đẳng cơ hội giáo  dục 

Điều 4

1. Tất cả quốc dân đều phải được tiếp nhận cơ hội giáo dục một cách bình đẳng tùy theo năng lực của mình, không được phân biệt đối xử  về nhân chủng, niềm tin, giới tính, địa vị xã hội, xuất thân gia đình trong giáo dục.

2. Nhà nước và chính quyền tự trị địa phương phải có sự trợ giúp cần thiết để  người khuyết tật có thể tiếp nhận giáo dục đầy đủ tùy theo tình trạng khuyết tật của bản thân.

3. Nhà nước và chính quyền tự trị địa phương phải có biện pháp cấp học bổng cho những người có năng lực nhưng gặp khó khăn trong việc học tập vì lý do kinh tế.

Chương II. Về việc thực thi giáo giáo dục

Giáo dục nghĩa vụ

Điều 5.

1. Quốc dân có nghĩa vụ phải cho con mà mình bảo hộ tiếp nhận giáo dục phổ thông theo quy định của pháp luật.

2. Giáo dục phổ thông được tiến hành với tư cách là giáo dục nghĩa vụ  phải có mục đích mở rộng năng lực cá nhân sẵn có đồng thời nuôi dưỡng nền tảng cuộc sống tự lập trong xã hội, giáo dục những phẩm chất cơ bản cần thiết với tư cách  là người làm chủ quốc gia xã hội.

3. Nhà nước và chính quyền tự trị địa phương phải đảm bảo cơ hội giáo dục nghĩa vụ và để đảm bảo tiêu chuẩn đó, nhà nước có trách nhiệm thực hiện nó dưới sự phân công và hợp tác thích hợp.

4. Không thu học phí đối với giáo dục nghĩa vụ trong các trường được lập ra bởi nhà nước và chính quyền tự trị địa phương.

Giáo dục trường học

Điều 6.

1. Các trường học theo quy định của pháp luật là thứ có tính chất công vì vậy chỉ nhà nước, chính quyền tự trị địa phương và các pháp nhân khác theo quy định của pháp luật mới được thành lập.

2. Trong các trường học nói trên, giáo dục một cách hệ thống phải được diễn ra có tổ chức, phù hợp với sự phát triển thân thể và tinh thần của người tiếp nhận giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Trong trường hợp này, người học phải coi trọng các quy tắc cần thiết khi trải nghiệm cuộc sống trường học đồng thời phải coi trọng việc  tự nâng cao lòng mong muốn học tập, tiến bộ của bản thân.

 Đại học

Điều 7.

1. Đại học phải nuôi dưỡng văn hóa cao và năng lực chuyên môn với trung tâm là học thuật đồng thời tìm kiếm chân lý sâu sắc, sáng tạo ra những tri thức mới và có cống hiến cho sự phát triển của xã hội thông qua việc cung cấp những thành quả đó cho xã hội một cách rộng rãi.

2. Phải tôn trọng tính tự chủ, tự lập cũng như giáo dục và đặc trưng nghiên cứu trong trường đại học.

Trường tư thục

Điều 8.  Nhà nước và chính quyền tự trị địa phương khi xem xét vai trò quan trọng  trong giáo dục trường học và tính chất công cộng của các trường tư thục phải tôn trọng  tính tự chủ của trường đồng thời phải nỗ lực chấn hưng giáo dục ở các trường tư thục bằng sự trợ giúp và pháp luật thích hợp.

Giáo viên

Điều 9.

1. Giáo viên của các trường theo quy định của pháp luật phải tự giác ngộ sâu sắc về sứ mệnh cao cả của bản thân, tích cực tu dưỡng không ngừng để hoàn thành trách nhiệm nghề nghiệp.

2. Đối với các giáo viên nói trên, do tầm quan trọng của trách nhiệm nghề nghiệp và sứ mệnh mà bản thân họ phải được tôn trọng, được trả lương thích hợp đồng thời được bồi dưỡng và giáo dục nghề nghiệp.

Giáo dục gia đình

Điều 10

1. Cha mẹ và người bảo hộ do là người có trách nhiệm đầu tiên đối với giáo dục con cái vì vậy  phải nỗ lực làm cho con cái có thói quen cần thiết đối với cuộc sống đồng thời giáo dục lòng tự lập, nhắm đến sự phát triển hài hòa giữa thân thể với tinh thần.

2. Nhà nước và các chính quyền tự trị địa phương vừa phải tôn trọng tính tự chủ của giáo dục gia đình vừa phải  nỗ lực cung cấp thông tin và cơ hội học tập cho phụ huynh và có chính sách cần thiết để hỗ trợ giáo dục gia đình.

Giáo dục mầm non

Điều 11. Giáo dục mầm non do có vai trò quan trọng đối với việc giáo dục nền tảng hình thành nhân cách suốt cuộc đời vì vậy nhà nước và chính quyền tự trị địa phương phải tạo ra môi trường thuận lợi cho sự khỏe mạnh và trưởng thành của trẻ em đồng thời nỗ lực chấn hưng nó bằng pháp luật.

Giáo dục xã hội

Điều 12.

1. Giáo dục xã hội đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của xã hội và cá nhân phải được nhà nước và chính quyền tự trị địa phương khuyến khích.

2. Nhà nước và chính quyền tự trị địa phương phải nỗ lực chấn hưng giáo dục xã hội  bằng  luật pháp thích hợp và bằng việc xây dựng các thư viện, bảo tàng, trụ sở công dân (kominkan)  và các cơ sở giáo dục xã hội khác cũng như  cung cấp thông tin và cơ hội học tập, sử dụng các cơ sở, thiết bị của trường học.

 Hợp tác liên kết tương hỗ giữa nhà trường, gia đình và người dân địa phương

Điều 13. Nhà trường, gia đình, người dân địa phương và những người có liên quan khác phải tự giác về trách nhiệm và vai trò của mình trong giáo dục đồng thời nỗ lực hợp tác, liên kết lẫn nhau.

Giáo dục chính trị

Điều 14.

1. Văn hóa chính trị cần thiết của người công dân có lương tâm phải được tôn trọng trong giáo dục.

2. Những trường học theo quy định của pháp luật không được phép tiến hành giáo dục chính trị và các hoạt động chính trị khác để ủng hộ hay phản đối một chính đảng cụ thể.

Giáo dục tôn giáo

Điều 15.

1.  Thái độ khoan dung đối với tôn giáo, văn hóa nói chung về tôn giáo và địa vị của tôn giáo trong đời sống xã hội  phải được tôn trọng trong giáo dục.

2. Các trường học do nhà nước và chính quyền tự trị địa phương lập ra không được phép tiến hành giáo dục tôn giáo và các hoạt động tôn giáo khác nhằm phục vụ cho một tôn giáo nhất định.

Chương 3. Hành chính giáo dục

 Hành chính giáo dục

 Điều 16. Giáo dục sẽ không tuân theo sự cai trị bất chính mà phải là thứ được tiến hành theo quy định của bộ luật này và các bộ luật khác vì vậy hành chính giáo dục phải được tiến hành một cách công bằng và thích hợp dưới sự phân công và hợp tác qua lại một cách hợp lý  giữa nhà nước và chính quyền tự trị địa phương.

2. Nhà nước phải đề ra và thực hiện các chính sách về giáo dục một cách tổng hợp để duy trì và nâng cao bình đẳng cơ hội giáo dục và tiêu chuẩn giáo dục trên phạm vi cả nước.

3. Chính quyền tự trị địa phương phải đề ra và thực hiện các chính sách về giáo dục tùy theo tình hình thực tế để chấn hưng giáo dục ở địa phương.

4. Nhà nước và chính quyền tự trị địa phương cần phải thực hiện các biện pháp tài chính cần thiết để đảm bảo cho giáo dục được thực hiện suôn sẻ và liên tục.

Kế hoạch cơ bản chấn hưng giáo dục

Điều 17

1. Để xúc tiến một cách có kế hoạch và tổng hợp các chính sách nhằm chấn hưng giáo dục, chính phủ phải xây dựng kế hoạch cơ bản về phương châm cơ bản đối với chính sách chấn hưng giáo dục, chính sách cần thiết và các nội dung cần thiết khác, đồng thời phải thông báo, công bố chúng tới toàn dân.

2. Chính quyền tự trị địa phương  phải tham khảo các kế hoạch ở mục trên và tùy theo tình hình địa phương mà nỗ lực xây dựng kế hoạch cơ bản về chính sách nhằm chấn hưng giáo dục ở địa phương.

Chương 4. Chế định pháp lệnh

Điều 18. Cần phải chế định các pháp lệnh cần thiết để thực hiện các điều khoản được quy định trong bộ luật này.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ  bản tiếng Nhật trên web của Bộ giáo dục Nhật Bản.