Lòng yêu nước

Việc nhà nước cận đại thông qua trường học cận đại mà nhắm tới giáo dục, điều chỉnh lòng yêu nước của quốc dân xét từ bản chất là không thể tránh khỏi nhưng ở trường hợp  Nhật Bản do tình hình đặc biệt do bại trận và chiến tranh lạnh cho nên vấn đề lòng yêu nước đã trở nên phức tạp. Sự đối lập  lâu dài về chính trị giữa một bên là phái bảo thủ cho rằng cần phải giáo dục lòng yêu nước và một bên là phái phê phán  đã làm cho vấn đề này trở thành một thứ cấm kị.

  1. Con đê tinh thần phòng chống chủ nghĩa cộng sản.

Mô típ cơ bản của phái bảo thủ nằm ở chỗ cần phải xây dựng con đê tinh thần để chống lại sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản. Vào năm 1950, đêm trước của cuộc chiến tranh Triều Tiên (năm Showa 25),  kể từ sau khi đưa ra thông tri về “chào cờ-hát quốc ca”, Bộ giáo dục đã nhất quán chỉ đạo các cơ sở giáo dục tôn trọng “Lá cờ mặt trời đỏ” như là biểu tượng của đất nước. Bên cạnh sự chỉ đạo mang tính thường nhật này của Bộ giáo dục, phe bảo thủ còn đưa ra vô số các động thái chính trị khác. Ví dụ như vào năm 1953 (năm Showa 28) trong cuộc hội đàm với thứ trưởng bộ quốc phòng Mĩ, người đứng đầu đảng cầm quyền đã đưa ra cam kết về lòng yêu nước (Hội đàm Ikeda-Roberton). Năm 1962 (năm Showa 37) hội nghị thứ trưởng Cục phòng vệ  đã đưa ra yêu cầu tăng cường giáo dục quốc phòng, giáo dục lòng yêu nước và trong bản báo cáo của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương năm 1966 (năm Showa 41) đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của giáo dục lòng yêu nước (hình ảnh con người mơ ước). Trong nội bộ phái bảo thủ cũng xuất hiện các ý kiến của các đảng viên, nghị viên cho rằng giáo dục hiện thời “thiếu vắng giáo dục lòng yêu nước”.

  1. Quan điểm cho rằng lòng yêu nước là sự đe dọa đối với sự tôn trọng cá nhân

Đối lập với quan điểm bên trên, phái phê phán nếu không phản đối giáo dục lòng yêu nước thì chí ít họ cũng có thái độ tiêu cực đối với nó. Có một chút ngoại lệ là vào khoảng từ thập niên 50 đến thập niên 60 khi Đảng Cách tân (Kakushinseito) nghiêng về tư tưởng Mao Trạch Đông, phái phê phán đưa ra khẩu hiệu “giáo dục lịch sử vì hòa bình và lòng yêu nước” tuy nhiên đây là chủ trương mang tính thời sự với trọng tâm là hòa bình-chống Mĩ với cảm quan nhận thức về sự nguy hiểm của việc sử dụng các căn cứ quân sự Mĩ như là cứ điểm chiến lược ở châu Á.

Phái phê phán phản đối giáo dục lòng yêu nước không phải chỉ vì đảng bảo thủ đối lập đang nắm trong tay quyền lực quốc gia mà họ còn có mối nghi ngờ nói chung đối với lòng yêu nước. Phái phê phán coi trọng nhất là “sự coi trọng cá nhân con người” và lo ngại lòng yêu nước đe dọa sự tôn trọng này.  Phái này cho rằng đây không phải chỉ là sự tồn đọng của ý thức cộng đồng có tính phong kiến và là tình cảm cần phải chinh phục để hiện đại hóa mà nó là hiện tượng phản động làm tổn thương tới cá nhân con người trong bối cảnh xuất hiện xã hội đại chúng.

  1. Sự biến đổi của mô hình đối lập tạo nên bởi cường quốc kinh tế.

Tuy nhiên tình hình như trên đã bắt đầu biến đổi mạnh mẽ từ thập niên 70. Do kinh tế Nhật Bản sau khi nhanh chóng thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng dầu lửa và trở thành  cường quốc kinh tế nên sự bất mãn đối với nghèo đói, bất bình đẳng, cảm giác mặc cảm với Âu Mĩ của người dân thường đã biến đổi rất mạnh mẽ. Tuy nhiên việc đất nước thành cường quốc kinh tế không đủ độ chín đã làm nảy sinh hiện tượng xã hội tiêu dùng, và đối với cả hai phái bảo thủ và phê phán tình hình đã trở nên phức tạp. Tóm lại một mặt do sự giàu có mà thanh thiếu niên mất đi ý thức phê phán đối với chính quốc gia mình và đảng bảo thủ đã chiếm ưu thế đa số ở cả địa phương lẫn trung ương. Tuy nhiên đồng thời,  việc xảy ra sự đổ vỡ của đạo đức xã hội và sự gia tăng của tội phạm mang tính kích động và hiện trạng không mấy xuất hiện tinh thần cống hiến của thanh  niên đối với cộng đồng và quốc gia  đã làm cho phái bảo thủ điêu đứng.

  1. Sự tăng cường tiếp xúc với các nền văn hóa khác do “Quốc tế hóa”

Thêm một yếu tố nữa làm thay đổi cơ cấu tình hình trước đó là sự “Quốc tế hóa” của xã hội Nhật Bản. Kể từ sau “Năm đầu tư ra nước ngoài” (1972), sự đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài như Châu Á và Mĩ gia tăng mạnh mẽ và đi cùng với nó số người Nhật Bản cùng gia đình ra nước ngoài cũng tăng mạnh. Thêm nữa vào năm 1978 và 1985 khi đồng Yên tăng giá, số người đi ra nước ngoài du lịch cũng tăng mạnh và ngược lại số người nước ngoài muốn đến Nhật Bản tìm việc, học tập và sinh sống cũng tăng lên và việc ngay cả con phố nhỏ ở Nhật Bản hiện nay cũng có người nước ngoài đã không phải là chuyện hiếm. Và trong bối cảnh khi có một số lượng lớn người mới đến đó, thì việc tái ý thức về mối quan hệ giữa người Nhật với người bản xứ vốn cư trú ở Hokkaido hay người Triều Tiên sống ở Nhật trước đó vốn được coi là “người nước ngoài” cũng được đặt ra.

Trước sự gia tăng tiếp xúc với các nền văn hóa khác như trên, phái phê phán đã chỉ trích rằng lòng yêu nước là thứ lạc hậu,  ngược lại phái bảo thủ cho rằng chính trong thời đại cạnh tranh quốc tế này thì nếu như không có lòng yêu nước thì khó có thể bình đẳng với nước ngoài.

  1. Các vấn đề tranh luận xung quanh lòng yêu nước từ giờ về sau

Vấn đề tranh luận từ giờ về sau là : (1) Lý giải như thế nào về mối quan hệ  quốc tế từ giờ về sau?; (2) Lý giải như thế nào về mối quan hệ giữa ý thức mong muốn cống hiến cho cộng đồng và lòng yêu nước?

Về vấn đề thứ nhất nếu nói một cách đơn giản thì đó là việc xem xét mối quan hệ của Nhật với thế giới là quan hệ cạnh tranh, đối lập hay hòa giải và hợp tác. Phái bảo thủ nhấn mạnh các vấn đề như cạnh tranh kinh tế quốc tế khốc liệt, sự đe dọa quân sự của Bắc Triều Tiên, sự đối lập với Trung Quốc và Nga xunh quanh vấn đề chủ quyền và khai thác ngư trường….chủ trương sự cần thiết của giáo dục lòng yêu nước. Trái lại phái phê phán cho rằng chính sự giáo dục lòng yêu nước thiên lệch như thế đã làm cho quan hệ quốc tế hướng đến hòa giải trở nên căng thẳng và nhấn mạnh giáo dục hiểu biết quốc tế.

Về vấn đề thứ hai, ở điểm cần có ý thức cống hiến cho cộng đồng thì cả hai phái đều thống nhất. Vấn đề là phái bảo thủ cho rằng thanh niên hiện tại thiếu ý thức đó và cho rằng đó là do thiếu vắng lòng yêu nước còn phái bảo thủ đưa ra ví dụ về các hoạt động tình nguyện khi xảy ra động đất để khẳng định rằng tinh thần vì cộng đồng của thanh niên không phải lúc nào cũng yếu và giả sử có yếu đi chăng nữa thì khi ấy nó cũng không có quan hệ gì với lòng yêu nước hoặc là có quan hệ đối lập với lòng yêu nước. Các luận điểm này sẽ còn được tiếp tục tranh luận ở hiện trường giáo dục từ giờ về sau.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 


Cũ hơn Mới hơn