Internet và môn Xã hội


Biểu hiện và phương tiện truyền thông

Các ví dụ về sử dụng phương tiện truyền thông trong giáo dục như NIE (news-paper in education), giáo dục thông tin sử dụng internet đã được tiến hành với các kết quả được công bố. Tuy nhiên, ở đó người ta chủ yếu đặt trọng tâm vào cách thức sử dụng trong học tập, việc khảo sát cách thức hiện tồn của phương tiện truyền thông trong giáo dục hay đặc trưng của chúng rất ít khi được tiến hành trong khi đó các thực tiễn và nghiên cứu vẫn diễn ra. Việc khảo sát cho thấy có rất nhiều học sinh không biết biểu hiện như thế nào mặc dù internet được sử dụng như là một phương tiện và nội dung trong giáo dục là một thực tế xuất phát từ nguyên nhân nói trên.

Lòng mong muốn biểu hiện và Internet

Để nâng cao lòng mong muốn biểu hiện thì khi tiến hành chỉ đạo cần lưu ý một số điểm:

(1) Học sinh có ý chí muốn biểu hiện

(2) Học sinh có ý thức mục đích khi biểu hiện

(3) Đối tượng biểu hiện phải rõ ràng

(4) Quyết định được phương pháp biểu hiện

(5) Nội dung biểu hiện đã được thu thập

(6) Bầu không khí lớp học nồng ấm để có thể tiến hành biểu hiện tự do

Trong số này để thực hiện được (1),(2), (3), (5) thì 4 đóng vai trò quan trọng. Bởi vì bằng việc đảm bảo được phương tiện  biểu hiện để thể hiện điều bản thân muốn sẽ nâng cao được lòng mong muốn biểu hiện. Thêm nữa, phương tiện biểu hiện càng phong phú thì kết quả được biểu hiện càng đa dạng và cá tính. Internet là phương tiện hiệu quả để nâng cao lòng mong muốn biểu hiện. (4) có thể coi là phương pháp biểu hiện và là công cụ để thu thập nội dung biểu hiện (5). Đồng thời nó cũng là thức thúc đẩy (1) và (2).

Trước đó, máy tính được sử dụng như là dụng cụ hỗ trợ giảng dạy và đối với học sinh thì các em tiếp nhận nó một cách thụ động. Tuy nhiên từ cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 (thế kỉ XX), việc sử dụng máy tính trong giáo dục đã có sự biến chuyển. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kĩ thuật, việc thể hiện  nội dung muốn biểu hiện bằng màu sắc, âm thanh, hình ảnh đã trở nên đơn giản. Giờ đây  nó được dùng như là hoạt động học tập mang tính chủ động dưới hình thức làm cho học sinh biểu hiện cụ thể, phát huy ý tưởng tự do và khai phóng học sinh hơn là được sử dụng như là một phương tiện dạy học của giáo viên.

 

Tính hai chiều của Internet

Nhờ Internet học sinh không chỉ có được thông tin đa dạng mà bản thân cũng có thể công bố thông tin. Giao diện thể hiện chữ viết, âm thanh, hình ảnh với các thông tin đa dạng thông thường được gọi là trang nhà (home page). Không chỉ có các cơ quan, tổ chức có trang nhà mà hiện nay có rất nhiều cá nhân cũng sở hữu trang nhà của mình. Kết quả là nơi tiếp xúc với internet từ trường mầm non đến trung học phổ thông tăng lên.

Mục tiêu của giáo dục lý giải quốc tế bao gồm hai nội dung là “hình thành ý thức liên kết thế giới dựa trên nhận thức về những vấn đề quan trọng chung của thế giới và quan hệ sinh tồn tương hỗ có tính chất quốc tế” và “giáo dục thái độ thực tiễn đối với hợp tác quốc tế”. Chương trình quan sát học tập toàn cầu vì môi trường ( GLOBE; Global Learning and Observations to Benefit the Environment) có trung tâm đặt tại Cơ sở thực tiến giáo dục môi trường trực thuộc đại học Tokyo Gakugei đã tiến hành dự án giáo dục triển khai hoạt động sử dụng Internet hướng tới mục tiêu trên từ năm 1994. Có 50 nước trên thế giới tham gia chương trình này với trên 3.000 trường học. Với suy nghĩ GLOBE không chỉ có ý nghĩa đối với giáo dục môi trường mà còn có ý nghĩa với cả lý giải và hợp tác quốc tế, Nhật Bản cũng đã chỉ định một số trường thí điểm tiến hành chương trình này.

Bên cạnh hoạt động quan sát môi trường cùng với các nước, với tư cách là chương trình độc lập, Nhật Bản đã thiết lập các chủ đề như “Heat island và việc sử dụng đất đai”, “quan trắc vị trí nước ngầm bằng giếng”, “Quan sát cây và lá rụng”, “Mưa A-xít và ảnh hưởng của nó”, “Văn hóa ẩm thực trên thế giới”, “Từ chiếc máy bán nước hoa quả tự động suy ngẫm về môi trường và địa phương” và tiến hành công bố kết quả điều tra trên các trang web của Nhật Bản. Không chỉ là khoa học tự nhiên mà các chủ đề khoa học xã hội, nhân văn cũng được thiết lập. Trang web không chỉ là nơi lưu trữ dữ liệu thu thập được mà còn là nơi giao lưu thông tin, “diễn đàn điện tử” phục vụ trẻ em trao đổi ý kiến cũng được thiết lập là nó trở thành nơi “giao lưu” không thể thiếu trong giáo dục lý giải quốc tế. Nếu như sự giao lưu đó phát triển thành giáo dục quốc tế thì hoạt động giáo dục lý giải quốc tế sẽ được nâng cao. Đối với học sinh Nhật Bản thì bức tường ngôn ngữ là một rào cản lớn nhưng việc đọc thông tin cũng có thể tiến hành trong một khoảng thời gian. Ở điểm này internet có lợi thế.

Trên trang web của trường Tamagawa không chỉ có giáo viên và học sinh mà còn có cả gia đình học sinh giam gia học tập môn Xã hội. Ở mục “Tại sao Yoritomo lại mở Mạc phủ ở Kamakura” ở trên trang web có thấy cả những thông tin học sinh viết từ hiện trường khi đến Kamakura. Các giáo viên bình luận về ý kiến của học sinh, đưa ra lời khuyên về những câu hỏi của học sinh đồng thời gia đình học sinh cũng bình luận. Chức năng trao đổi thông tinh hai  chiều của Internet này tạo nên hiệu quả trong việc kết nối với gia đình và địa phương.

Internet không chỉ giúp cá biệt hóa việc học tập mà còn là công cụ có khả năng tạo ra sự sở hữu chung về kết quả học tập.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)