HỌC TẬP SONG SONG ĐỊA LÝ LỊCH SỬ

1. Sự ra đời của việc học tập song song địa lý lịch sử

Môn Xã hội ở trường THCS thời kỳ đầu (sơ kỳ) là môn Xã hội tổng hợp với nguyên lý phương pháp là học tập giải quyết vấn đề dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm. Môn Xã hội trong bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1947 và năm 1951 đã thiết lập các tangen kết hợp mối quan tâm của học sinh, kinh nghiệm cuộc sống và chức năng xã hội đồng thời cũng là học tập theo các tangen về cuộc sống, tiến hành các hoạt động tìm kiếm mang tính chủ thể của học sinh.

Phương thức học tập tangen này được diễn ra nhất quán từ năm thứ nhất tiểu học cho đến năm thứ nhất THPT và trong vòng 10 năm này trong môn Xã hội tổng hợp đã chia ra làm 4 môn: ở năm thứ nhất và thứ hai cấp THPT học sinh học Đông dương sử, Tây dương sử, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự (Đặc biệt môn Xã hội hỗn hợp ở năm thứ nhất THPT thường được gọi là Xã hội tổng quát. Ở năm thứ 2, 3 cấp THCS bên cạnh môn Xã hội còn có môn Quốc sử được lập ra với tư cách là môn giáo khoa độc lập).

Trong bản Hướng dẫn học tập năm 1955, chế độ phân chia lĩnh vực trong môn Xã hội ở cấp THCS lần đầu tiên lộ diện. “Lĩnh vực” (bunya) một khái niệm mới khác với “môn” (Kamoku) đã được đưa vào và môn Xã hội với tư cách là sự thống hợp 3 lĩnh vực là Địa lý, Lịch sử, Kinh tế-chính trị, Xã hội đã ra đời. Có thể nói đây là sự phê phán đối với môn Xã hội dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm thời sơ kỳ và chuyển sang môn Xã hội theo chủ nghĩa hệ thống. Một bước ngoặt lớn của môn Xã hội.

Bản Hướng dẫn học tập năm 1958 lần đầu tiên đưa ra việc học tập song song địa lý, lịch sử khi khẳng định nguyên tắc cho học sinh học tập lĩnh vực Địa lý ở năm thứ nhất, năm thứ hai học lĩnh vực Lịch sử, năm thứ ba học lĩnh vực Kinh tế-chính trị (mô hình zabuton) và trong trường hợp có sự chuẩn bị kĩ lưỡng thì trong cả năm thứ nhất và năm thứ hai sẽ cho học song song hai lĩnh vực là Lịch sử và Địa lý (mô hình chữ Pi-π). Ở các trường hợp thông thường thì mô hình Zabuton là phổ biến nhưng ở các trường trực thuộc các trường đại học quốc lập thì sự thử nghiệm mô hình chữ Pi cũng bắt đầu

2. Cấu tạo giáo khoa môn Xã hội ở THCS và chế độ “bunya” (lĩnh vực).

Cùng với sự di chuyển từ môn Xã hội tổng hợp sang chế độ lĩnh vực, các vấn đề như cấu tạo giáo khoa của môn Xã hội ở THCS sẽ như thế nào, việc phân bố các lĩnh vực vào từng cấp lớp như thế nào trở thành vấn đề lớn đặt ra.

Về việc phân bố các lĩnh vực cho ba cấp lớp thì về cơ bản có ba phương phức là mô hình chữ Pi, mô hình zabuton, mô hình zudare.

Mô hình chữ Pi là mô hình được đặt tên theo ký tự chữ π (Pi) trong tiếng Hy Lạp. Trong mô hình này ở năm thứ nhất và thứ hai Địa lý-Lịch sử sẽ được học song hành, ở năm thứ ba học Kinh tế-chính trị (về sau gọi là lĩnh vực giáo dục công dân) tức là học tập song song Địa lý, lịch sử. Ban đầu do số giờ học của lĩnh vực Lịch sử nhiều nên việc học tập lịch sử kéo dài đến năm thứ ba vì thế nó trở thành mô hình biến thể của mô hình chữ Pi. Tuy nhiên ở năm thứ hai thì thuần túy là mô hình chữ Pi khi chỉ dừng lại ở Lịch sử, Địa lý. Nó tương đối giống với hình thức gọi là “Co-related course” của Mĩ.

Mô hình zabuton là mô hình ở đó năm thứ nhất học lĩnh vực Địa lý, năm thứ hai học Lịch sử, năm thứ ba học Kinh tế-chính trị (sau là lĩnh vực Công dân), từng năm một sẽ học một lĩnh vực vì vậy nó được gọi tên là zabuton (xếp chăn đệm). Nó tương ứng với kiểu chương trình “Succesive course”. Phương thức này có ưu điểm là có thể học tập tập trung vào một lĩnh vực nhưng do tính độc lập của từng lĩnh vực mạnh cho nên nó mất đi sự tập trung, liên kết.

Mô hình Zudare cho phép học cả ba lĩnh vực suốt trong ba năm. Nó tương ứng với chương trình kiểu Lateral course của Mĩ. Phương thức này có ưu thế trong việc nâng cao việc học tập trong từng lĩnh vực tùy theo sự phát triển của học sinh nhưng do thời gian các đơn vị học trình từng tuần bị chia nhỏ cho nên trên thực tế khi thực hiện gặp rất nhiều vấn đề và hầu như không diễn ra ở Nhật Bản.

Bản Hướng dẫn học tập năm 1969 đã xác lập rõ cấu tạo giáo khoa của môn Xã hội ở cấp THCS về nguyên tắc là theo mô hình chữ Pi. Đó là việc cho học tập song song hai lĩnh vực là Lịch sử và địa lý sau đó dựa trên nền tảng này cho học lĩnh vực Công dân (tên gọi cải tổ từ Kinh tế-chính trị). Cấu tạo toàn thể của ba lĩnh vực này là sự thể hiện tư tưởng hướng về tác dụng hữu cơ nhắm đến mục tiêu tối cao của môn Xã hội là “giáo dục nền tảng phẩm chất công dân”.

Đương thời, số giờ học Địa lý trong năm là 140 giờ, số giờ dành cho lĩnh vực Lịch sử là 175 giờ nên mô hình đó là mô hình chữ Pi biến dạng và trên thực tế các trường công nhận và sử dụng mô hình zabuton nhưng trong bản Hướng dẫn học tập năm 1977 thì mô hình chữ Pi thuần túy trở thành lý tưởng và nguyên tắc này được nhấn mạnh. Tuy nhiên thực tế thì có nơi vẫn tiếp tục khẳng định và thực thi mô hình Zabuton.

3. Sự biến thiên triết lý của học tập song song địa lý, lịch sử.

Học tập song song Địa lý, Lịch sử trong bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1969 có đặc trưng là nhấn mạnh học tập hệ thống Địa lý và Lịch sử. Tức là tôn trọng mục tiêu và đặc điểm cố hữu của từng lĩnh vực và phân chia vai trò của từng lĩnh vực nhằm đạt được mục tiêu của môn Xã hội theo kiểu tam vị nhất thể. Vì vậy mối quan hệ tương tác của các lĩnh vực bị đẩy xuống hàng thứ hai. Nó cũng tạo ra kết quả là xu hướng độc lập của từng lĩnh vực.

Trong bản Hướng dẫn học tập môn Xã hội năm 1977 có thêm vào sự phản tỉnh về điều đó nên mặc dù vẫn tôn trọng đặc điểm, mục tiêu của từng lĩnh vực nhưng cũng chú trọng đến mối quan hệ giữa các lĩnh vực và làm rõ triết lý nhắm đến môn Xã hội thống hợp. Có thể nói đây là sự ngăn chặn đối với xu hướng giải thể môn Xã hội.

Cho dù nói là có nhắm tới mối quan hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực nhưng không có nghĩa là định ra việc học tập mang tính tổng hợp hay dung hợp ở tất cả các lĩnh vực mà là ở từng lĩnh vực sẽ đưa ra các nội dung có liên quan ở lĩnh vực khác cho học sinh học tập với cái nhìn rộng rãi để nhắm đến giáo dục năng lực tư duy tổng hợp, tương tác.

Trong bản Hướng dẫn học tập năm 1989 có tiếp nhận triết lý của bản năm 1977 nhưng do sự phân phối giờ học làm việc chế tạo kế hoạch chỉ đạo xuyên suốt ba năm trở thành vấn đề quan trọng.

Ngay cả trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998 triết lý này cũng không thay đổi nhưng do số giờ học giảm đi đáng kể và số giờ học trong một tuần của môn Xã hội xuống còn có 3 giờ đối với năm thứ nhất, năm thứ hai cho nên lại nảy sinh vấn đề như cách thức phát huy triết lý hay chế tạo kế hoạch chỉ đạo. Việc xây dựng nội dung hướng dẫn học tập nhắm đến mối liên quan của các lĩnh vực tùy theo từng nơi có sự thay đổi tuy nhiên ở hiện trường trường học thì những sự công phu, sáng tạo được trông chờ một cách đặc biệt.


Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 


Cũ hơn Mới hơn