Học tập sản xuất


Học tập sản xuất là gì?

 

Học tập sản xuất theo nghĩa rộng chỉ toàn bộ giáo dục hoạt động sản xuất. Hoạt động điều tra nền tảng kinh tế của thành phố, khu phố, thôn làng là đặc trưng của học tập khu vực ở trường tiểu học, trong học tập lịch sử cũng có thể nó trở thành chỉ đạo học tập các dạng thức sản xuất. Khi vào trường THCS học sinh sẽ học về hoạt động sản xuất của Nhật Bản và trên thế giới với trung tâm là lĩnh vực địa lý. Trong lĩnh vực công dân cũng xuất hiện các tình huống học sinh suy nghĩ về vai trò của các xí nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nói chung nó chỉ học tập sản xuất giới hạn trong học tập về nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, thông tin liên lạc ở lớp 5. Ở đây sẽ sử dụng khái niệm này theo nghĩa hẹp. Liên quan đến mục đính, tính chất của học tập sản xuất có rất nhiều cách hiểu và thực tiễn. Bởi vì học tập sản xuất  phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ hình thức mà không trở thành hoạt động giờ học dạy trực tiếp về sản xuất. Tức là phần lớn giáo viên  dạy vì (1) hình thành tri thức và tư chất có ý nghĩa nào đó, (2) dạy về sản xuất với tư cách đó là biện pháp để đạt được điều vừa nói. Nội dung bên trong của (1) thay đổi tùy theo giáo viên cho nên  khi nhìn qua thì thấy học tập sản xuất rất phức tạp. Dưới đây sẽ trình bày về 4 mô hình học tập sản xuất.

Học tập sản xuất với tư cách là giáo dục đạo đức quốc dân.

Mô hình thứ nhất có mục đích nhằm giáo dục đạo đức quốc dân hay cụ thể hơn là giảng dạy “giá trị” của lao động. Giáo dục sản xuất này nhắm tới việc làm cho học sinh yêu quý lao động, phụng sự công việc trọn đời, có thái độ quan tâm mong muốn cống hiến cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Ví dụ như giờ học về nông gia sản xuất rau. Giáo viên đưa ra mẫu hình người nông dân sử dụng vùng đất  hoang và nỗ lực sản xuất. Tiếp đó làm cho học sinh tưởng tượng về sự cực nhọc và niềm vui khi trồng rau, về lẽ sống chinh phục khó khăn của con người, về sự đồng cảm với những con người vì công việc. Tuy nhiên, kiểu giờ học này có một nguy cơ khó có thể phủ định đó là sự nguy hiểm của việc nhồi nhét giá trị quan.

 

Học tập sản xuất với tư cách là giáo dục địa chí Nhật Bản.

 

Mô hình thứ hai này có mục đích giảng dạy “tình hình” hoạt động sản xuất trong giáo dục tiêu chuẩn về học tập địa lý từ cấp THCS trở đi. Đối với trẻ em cần phải làm cho học sinh biết ở mức độ tối thiểu về tình hình nông-công nghiệp Nhật Bản thông qua giáo dục nghĩa vụ. Vì vậy quan điểm này cho rằng đây là sứ mệnh của học tập sản xuất.

Nếu lấy ví dụ về nông nghiệp thì đó là việc giáo viên làm cho học sinh có cái nhìn khái quát về sự mở rộng diện tích trồng rau toàn quốc, chú ý đến nơi sản xuất rau trên cao nguyên với việc sử dụng đất đai rất đặc trưng. Bằng việc  điều tra thông tin về khu vực sản xuất kiểu mẫu này và làm cho học sinh nắm được các điều kiện tự nhiên, môi trường của vùng đất đó và mối quan hệ nhân văn phát triển từ thành tựu trồng rau  mà giúp học sinh  hiểu được các vấn đề mà vùng đất đang đối mặt.

 

Học tập sản xuất với tư cách giáo dục tập quán tư bản chủ nghĩa

 

Mô hình thứ ba là học tập sản xuất đứng trên lập trường nhắm tới mục đích làm cho học sinh nắm được tinh thần cố hữu của xã hội tư bản chủ nghĩa. Nói một cách cụ thể là  dạy cho học sinh hành vi của người làm kinh tế có tính hợp lý, lô-gic cao và giải thích được nó. Mọi người đều hoạt động dưới mô hình trong điều kiện nhất định, cố gắng hạ thấp giá thành để kiếm tìm lợi ích thông qua hoạt động kinh tế. Việc làm cho học sinh tìm kiếm về các công phu, nỗ lực của người lao động chính là hoạt động học tập sản xuất.

Ví dụ như việc cho học sinh tìm hiểu về hành vi trồng rau xà lách, cà chua ở ngoại ô. Những việc như chia các cây con ra thành nhiều lần để trồng có ý nghĩa như thế nào? giáo viên làm cho học sinh hiểu về mục đích và mối liên hệ của các hành vi từ đó có được  hình ảnh về mạng lưới các hiện tượng liên quan đến sản xuất rau. Đồng thời dựa trên các hiện tượng đó mà làm cho học sinh suy nghĩ về mối quan hệ nhân quả, suy luận về tính hợp lý trong tác nghiệp của nông dân để tìm ra ý nghĩa.

 

Học tập sản xuất với tư cách là giáo dục kinh tế.

 

Mô hình thứ tư nhằm mục đích giáo dục ách nhìn khoa học về xã hội, dạy cho học sinh về lý luận kinh tế hoạc được chỉ rõ trong cơ cấu sản xuất-lưu thông-tiêu dùng. Việc làm cho học sinh nắm được các tri thức chính xác về các sự việc, hiện tượng kinh tế, và có cơ cấu lý luận giải thích các hiện tượng, sự việc đó được coi là mục đích  đầu tiên của mô hình học tập sản xuất này.

Ví dụ như, giáo viên đưa ra các tấm biển mà cửa hàng rau hay treo như “rau hữu cơ không dùng nông dược”, “rau lấy trực tiếp từ nơi sản xuất”… và làm cho học sinh suy nghĩ xem tại sao lại cần tới những tấm biển đó, tại sao họ lại bán được với giá cao hơn một chút. Đây là giờ học thông qua việc nghiên cứu, chỉnh sửa giả thuyết  mà tìm kiếm khái niệm liên quan đến giá trị gia tăng, giá lưu thông sản phẩm và sự xuất hiện của hệ thống kinh doanh mới với hợp đồng kí kết trực tiếp giữa các tiểu thương và nông gia.

 

Ý nghĩa giáo dục và vấn đề còn tồn tại.

 

Cuối cùng, hãy xem xét ý nghĩa và quan hệ vị trí của lý luận học tập sản xuất với 4 mô hình trên.

Mô hình thứ nhất đã tạo ra mối liên quan tích cực đối với thế giới bên trong của học sinh và mong muốn làm thay đổi nó nhưng các mô hình khác lại coi trọng việc trợ giúp sự trưởng thành tri thức ở học sinh. Mô hình thứ hai ưu tiên việc đảm bảo lượng nhận thức xã hội trong khi mô hình thứ ba và bốn lại coi trọng chất lượng của nhận thức. Mô hình thứ ba lấy tiêu điểm là hành vi kinh tế vi mô của con người với hiện tượng cá biệt, cụ thể còn mô hình thứ tư  lại nghiêng về cái  nhìn nói chung vượt qua hiện tượng cá biệt, làm cho học sinh biết được cấu tạo kinh tế quy định hoạt động của con người.

Cho đến nay trong giới giáo dục các bản báo cáo về học tập sản xuất đều bao hàm cả bốn mô hình trên và đều có tranh luận về ưu điểm cũng như vấn đề tồn tại của từng mô hình. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu đều nặng về cái khung chỉ đạo mà không đặt ra các câu hỏi như tại sao lớp 5 lại học về sản xuất, việc cấu tạo các chủ đề theo ba lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thông tin liên lạc đã thích hợp chưa, có cần phải học về sản xuất không, có chủ đề nào thay thế nó không? Cần có những nghiên cứu để sửa đổi từ gốc rễ việc biên soạn nên nội dung giáo dục của lớp 5.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (gyosei, 2000)