Học tập phát hiện


Định nghĩa

Học tập phát hiện là học tập được tổ chức giống như là tái phát hiện, tương tự như việc nhà khoa học phát hiện ra khái niệm cơ bản của khoa học. Học tập phát hiện trong môn Xã hội là học tập ở đó người học tham gia vào quá trình tạo ra tri thức lịch sử, xã hội, địa lý, phát hiện ra quy tắc, quy luật.

Sự đề xướng của Mĩ và ý nghĩa

Học tập phát hiện thu hút được sự chú ý của dư luận vào cuối thập niên 50 trong cuộc cải cách giáo dục ở Mĩ. Nó được đề cập đến trong báo cáo của Bruner, J.S năm 1959.

Trong hội nghị cải cách giáo dục này, các học giả đã công nhận rằng trong hoạt động đời sống thường ngày của trẻ em, nếu như nhìn vào sự hoạt động của trí tuệ thì về mặt nguyên lý nó cũng giống như chặng đầu tiên của nhà khoa học và nó nên được coi là một vấn đề trong giáo dục trí tuệ. Tiếp nhận điều này Bruner cho rằng con người đạt được trạng thái tự lập và hoàn thiện khi con người tự mình phát hiện nội dung khoa học và để chuyển giáo dục trường học từ chỗ là sự ứng phó với đời sống sang học tập có cấu tạo khoa học cần phải cải cách cả chương trình và phương pháp giáo dục. Ở đó, thứ được nhấn mạnh là học tập phát hiện và cơ cấu của môn giáo khoa.

Giả thiết nổi tiếng “cho dù là môn giáo khoa nào cũng có tính chất trí tuệ vào có thể dạy một cách hiệu quả cho trẻ em ở từng giai đoạn phát triển” đã thể hiện chiến lược tổ chức nội dung và phương pháp giáo dục mới. Nội dung giáo dục sẽ bao gồm các thành tựu cao nhất trong thành tựu trí tuệ và phương pháp sẽ được tiến hành theo các hoạt động mang tính trí tuệ. Cấu tạo của môn khoa học được chuyển đổi thành cấu tạo của môn giáo khoa, biến nó thành nội dung giáo dục và xúc tiến tổ chức hoạt động học tập sao cho tương tự với quá trình phát hiện của nhà khoa học. Khái niệm được nhấn mạnh ở phương diện hoạt động là học tập phát hiện.

Học tập phát hiện nhấn mạnh quá trình phát hiện được tiến hành với sự suy luận của người học tìm kiếm câu trả cho vấn đề đặt ra từ tài liệu được cung cấp. Sau suy luận sẽ là quá trình tìm kiểm, thẩm tra, đánh giá dựa trên độ tin cậy và thực chứng. Sự phát hiện chứa đựng trong mình động cơ tìm kiếm và sáng tạo.

Theo Bruner khi phát hiện ra  sự đúng đắn của cac quy luật của các mối quan hệ trước đó chưa biết hay sự giống nhau giữa các khái niệm, người học sẽ không chỉ tự mình có được cấu tạo của khoa học với các khái niệm, quy luật cơ bản của lĩnh vực khoa học đó mà còn có thể đạt đến sự tự tin về năng lực của bản thân. Nếu như tổ chức các hoạt động thích hợp theo cấu tạo của khoa học thì ngay cả học sinh tiểu học cũng có thể tiến hành các hoạt động trí tuệ đỉnh cao và có thể giáo dục được thái độ, năng lực trí tuệ.

Sự đề xướng học tập phát hiện đã tạo ra sự chuyển đổi mạnh mẽ trong lý luận giáo dục và khoa học giáo khoa chuyển nội dung giáo dục từ sự thực sang cấu tạo, chuyển học tập từ giới thiệu lý thuyết sang giải thích trực quan, chuyển giáo dục từ chủ nghĩa kinh nghiệm sang chủ nghĩa hợp lý.

 

Sự triển khai ở nước ta

Học tập phát hiện ở nước ta đã được xúc tiến bởi Mizukoshito Shuki. Học tập phát hiện với cách tiếp cận “phương pháp làm cho học sinh tham gia vào quá trình tạo ra tri thức” đã nhắm tới việc hình thành nên tri tuệ có tính sáng tạo bằng tìm kiếm. Trong môn Xã hội đã lấy “quan hệ giữa các sự thật hoặc quan hệ của quan hệ” làm đối tượng học tập và làm cho học sinh phát hiện ra chúng. Quá trình đó được cấu tạo từ 5 bước.

(1) Tìm ra chủ đề

(2) Xây dựng giả thuyết (ý tưởng)

(3) Củng cố giả thuyết

(4) Xác nhận

(5) Phát triển

Ví dụ như chủ đề “Bước tiến của khu công nghiệp” ở lớp 5 tiểu học được thể hiện như dưới đây.

Phân phối thời gian

Hoạt động học tập và nội dung

 

Tìm ra chủ đề

(1 giờ)

 

 

 

Xây dựng ý tưởng

(0.5 giờ)

 

Củng cố giả thuyết

(1.5 giờ)

 

 

 

Xác nhận

(5 giờ)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát triển

(1 giờ)

1. So sánh cách thức mở rộng sản xuất ở khu công nghiệp Bắc Kyushu với cách thức  nâng cao sản xuất côn nghiệp của toàn bộ Nhật Bản.

 

2.Dự tưởng rằng “Sản xuất ở Bắc Kyushu tại sao lại tăng nhanh trong thời gian gần đây?”

Đất đai sử dụng, nước , thị trường, động lực-nền tảng của công nghiệp

Công nghiệp truyền thống, chính sách (quá trình lịch sử)

 

3. Điều tra thông tin về Bắc Kyushu với trung tâm là Hachiman đầu thời Minh Trị.

– Điều kiện tự nhiên và xã hội của Bắc Kyushu.

4. Điều tra thông tin về sự hình thành của 4 khu công nghiệp lớn của Nhật Bản.

– Bắc Kyushu, nơi hình thành và phát triển công nghiệp nặng của Nhật Bản.

5. Điều tra về quá trình của khu công nghiệp bắc Kyushu thời hậu chiến

– So sánh sự phát triển và điều kiện bất lợi với các khu vực khác.

6. Tóm tắt lại sự xác nhận về chủ đề

7. Dự đoán về sự phát triển của công nghiệp Nhật Bản từ giờ trở đi.

 

 

Chủ đề học tập này ở trường tiểu học đã được tổ chức với việc điều tra về điều kiện của sự phát triển côn nghiệp ở Bắc Kyushu và tìm kiếm nguyên nhân khu công nghiệp này đang sa sút hiện nay. Bằng việc xem xét sự biến đổi của khu công nghiệp Bắc Kyushu mà đạt được mục tiêu “Sự hình thành và phát triển của khu công nghiệp ở Nhật Bản có mối liên hệ mật thiết với phương châm quốc gia ở từng thời đại và điều kiện sản xuất như phú quốc cường binh, tăng trưởng kinh tế cao độ, và nó biến đổi tùy theo sự biến đổi của thời đại”.

 

Vấn đề đặt ra và hiện trạng

Học tập phát hiện ở nước ta do được tiếp cận như là một phương pháp học tập cho nên nó chỉ dừng lại ở việc biến nó thành phương pháp chỉ đạo học tập, tạo ra các chủ đề (tangen) tuân theo nội dung bản Hướng dẫn học tập. Vì vậy, phần lớn các giờ học Xã hội dựa trên học tập phát hiện không đảm nhận được vai trò giáo dục trí tuệ đúng với ý đồ ban đầu là học tập về quá trình hình thành tri thức với chất lượng cao và học tập về cấu tạo khoa học như Bruner đã đề ra.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)