Học tập lịch sử hậu chiến

 

Tính đặc trưng và tính phổ biến của khái niệm “Lịch sử hậu chiến”

Khi nói tới “lịch sử hậu chiến” sẽ có không ít câu hỏi đặt ra như “nó là sau chiến tranh Việt Nam, chiến tranh vùng Vịnh hay là chiến tranh Triều Tiên?”. Thông thường, nó chỉ lịch sử sau cuộc chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương. Tức là khái niệm này chỉ lịch sử sau khi Nhật Bản bại trận trong cuộc chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương (bên thắng là quân Đồng minh) và nó được gọi ngắn gọn là “lịch sử hậu chiến”. Vì vậy, có thể nói nó là nhận thức lịch sử cố hữu của Nhật Bản. Tuy nhiên, nếu như tư duy về lịch sử của cuộc chiến tranh lạnh đối đầu Đông-Tây hình thành ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc thì thấy nó cũng có tính phổ biến.

Trong giáo dục trường học, chịu ảnh hưởng từ thực tế phân chia thành “Lịch sử Nhật Bản” và “Lịch sử thế giới”, lịch sử về sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Nhật Bản được nhấn  mạnh và trong phạm vi cần thiết thì nó có khuynh hướng chú ý đến mối quan hệ với Mĩ.

Ở trường hợp đặt cái nhìn vào “Lịch sử thế giới” thì có khuynh hướng vừa đề cập tới tình hình độc lập của các thuộc địa vừa nhìn vào những ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh lạnh đối với các nước châu Á, châu Phi. Tuy nhiên, sự nhất thể hóa giữa “Lịch sử thế giới” với “lịch sử Nhật Bản” chính là vào thời kì này-tức là thời kì “lịch sử hậu chiến”. “Lịch sử hậu chiến là khái niệm” có ý chỉ đặc trưng của “Nhật Bản” với tư cách là quốc gi hòa bình không có chiến tranh diễn ra trực tiếp sau khi chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương kết thúc đồng thời mặt khác chỉ lịch sử có sự  liên đới của nhà nước trong các cuộc xung đột khu vực và sự chênh lệch kinh tế giữa các quốc gia trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh-tức là tính phổ biến có tính thế giới.

Ý nghĩa lịch sử của “Lịch sử hậu chiến”

Cho dù “sau chiến tranh” (hậu chiến) việc các cuộc xung đột và nghèo đói trên thực tế vẫn chưa được giải trừ là  tính phổ biến thế giới đi nữa thì đối với Nhật Bản và thế giới, “hậu chiến” đều mang ý nghĩa phổ quát. Đó là do “nhân quyền” đã được thừa nhận là thứ quan trọng. Mĩ, sau thất bại ở Việt Nam đã cố gắng đảm bảo điều kiện không làm tổn thất nhân mạng khi can thiệp vào các cuộc xung đột quốc tế. Liên Xô-nơi ưu tiên cho quân sự khiến cho đời sống quốc dân bị áp chế trong thời chiến tranh lạnh đã sụp đổ.

Tư tưởng không được tước đoạt sinh mạng con người bằng chiến tranh, ưu tiên đời sống là giá trị quan được đảm bảo bằng tân hiến pháp ra đời sau khi Nhật Bản thất bại trong Chiến tranh châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên thật hài hước rằng những nước thắng trận như Liên Xô, Mĩ nửa thế kỉ sau lại phải học lại bài học này. Việc giúp học sinh học về tính phổ biến thế giới của “lịch sử hậu chiến” là không thể bỏ qua.

“Lịch sử hậu chiến” với tư cách là quá khứ có khả năng đối thoại.

Khi lịch sử  là sự đối thoại giữa quá khứ và hiện tại thì “lịch sử hậu chiến” vừa là quá khứ trực tiếp hướng đến ngày nay đồng thời các kí ức đa dạng thông qua nhiều dạng thức trung gian vẫn được bảo tồn với số lượng lớn. Các loại hồ sơ ghi chép được lưu giữ ở gia đình, trường học,  thư viện còn rất nhiều. Ví dụ như, thời trang hiện ra trong các tập album hay các tấm ảnh kỉ niệm hay phong cảnh đằng sau, các cuốn sách hướng dẫn du lịch, thời gian biểu, trên báo không chỉ có các bài viết mà có trường hợp ở góc quảng cáo hay chương trình ti vi cũng thể hiện đặc trưng của thời đại. Ở gia đình hay địa phương có rất nhiều người trực tiếp trải nghiệm các sự kiện hoặc là những người được nghe những người trực tiếp trải nghiệm. Các xí nghiệp, cơ sở được xây dựng sau chiến tranh, các cuốn sách giới thiệu về nó đã cũ, các bia kỉ niệm-những đầu mối để điều tra quá khứ vẫn còn rất nhiều. Bằng việc lần giở lại những niên giám thống kê, các tài liệu do cộng đồng tự trị địa phương phát hành người ta có thể nắm được sự biến chuyển có tính số lượng.

Giống như vậy, lịch sử hậu chiến có thể nói có đặc trưng là việc học tập có thể tiến hành bằng trải nghiệm với các phương pháp cơ bản của nghiên cứu lịch sử như phỏng vấn, sử dụng các tư liệu trực tiếp. Việc tiến hành các trải nghiệm như thu thập thông tin (tư liệu), đọc hiểu nó, so sánh với ngày nay, vừa thiết lập giả thuyết vừa  kiểm chứng nguyên nhân của sự thay đổi sẽ giúp cho việc so sánh với thời đại khác trở nên dễ dàng. Người học  bằng việc đọc hiểu lịch sử từ sự thay đổi của các nhà máy, trang trại ở khu vực gần gũi bản thân và lần ngược lại các tài liệu thống kê về nguyên liệu sản xuất phụ thuộc vào bên ngoài như thế nào  mà có thể biết được một cách trực tiếp về tình hình nhất thể hóa của thế giới. Thêm nữa, thông qua phỏng vấn những người đã trải qua mà người học có cơ hội đặt ra câu hỏi về sự khác biệt trong ý thức và lối suy nghĩ của mình với những người  đã trải nghiệm đó. Đồng thời người học cũng sẽ có được tinh thần khoan dung, đồng cảm đối với những người có trải nghiệm, tư duy khác mình.

Vấn đề của “học  tập lịch sử hậu chiến”

Học tập lịch sử hậu chiến không chỉ đơn giản là báo cáo những gì mình điều tra được thông qua các trải nghiệm ở nơi thân thuộc mà còn cần phải  là việc người học so sánh những biến đổi của khu vực và kí ức trải nghiệm của bản thân với động thái vấn đề của thế giới, từ sự so sánh đó làm rõ ý nghĩa lịch sử của chúng tương ứng với các giai đoạn phát triển và năng lực của người học.

Chính việc làm rõ những điều người đương thời không nhận ra và đem lại ý nghĩa, giá trị lịch sử cho nó là một trong những chức năng của học tập lịch sử. Bằng việc này, có thể giáo dục cho học sinh con mắt nhìn (tư duy)   xã hội một  cách khoa học, hợp lý. Đồng thời, bằng việc làm cho học sinh nhận ra rằng các sự việc, công việc của đời sống thường ngày là một bộ phận của lịch sử thì bản thân người học sẽ nhận ra sức nặng trách nhiệm của bản thân ở hiện tại và tương lai. Việc nhận thức rằng  các nhận thức xã hội về “quyền lợi của phụ nữ”, “môi trường” là những biến chuyển diễn ra chỉ chừng mấy chục năm gần đây sẽ làm cho người học suy nghĩ về đạo đức công dân và phương hướng tham gia chính trị. Thêm nữa, người học sẽ tiếp tục tìm hiểu xem vấn đề “dân tộc”-một trong những nguyên nhân tạo ra xung đột khu vực đã trở thành vấn đề trong cơ cấu nào với tư cách là vấn đề của bản thân xuất phát từ khu vực gần gũi. Đây là việc có ý nghĩa lớn trong  học tập lịch sử hậu chiến thuộc môn Xã hội và là lý do đặt ra học tập lịch sử trong mối quan hệ với vấn đề học tập thuộc lĩnh vực công dân. Có thể nói chính học tập làm  cho học sinh tiến hành điều tra sự biến hóa của các chủ đề ở địa phương gần gũi và suy ngẫm về ý nghĩa xã hội của sự biến đổi đó là thực tiễn cần có đối với học tập lịch sử hậu chiến.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)