Học tập chủ đề

Học  tập chủ đề theo nghĩa rộng

Học tập chủ đề (thematic approach) có cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng nó chỉ phương pháp cấu tạo, tuyển chọn nội dung học tập đối ngược với học tập hệ thống nhưng đây là dụng pháp không mấy phổ biến.

Trong nội dung các môn giáo khoa như khoa học hay môn Xã hội, thông thường do nội dung có tính chất hệ thống tuân theo lô-gic của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cho nên việc học tập đặt trọng tâm vào việc  lĩnh hội các phương pháp, khái niệm khoa học. phương pháp này được gọi là học tập  hệ thống (systematic approach) trong các môn giáo khoa ở cấp trung học cơ sở và trung học  phổ thông thì đây là nguyên lý cấu thành nội dung phổ biến.

Trái lại, học tập chủ đề do tổ chức nội dung nhắm đến mối quan tâm, hứng thú của học sinh và ứng phó với đặc trưng của khu vực và nhà trường cho nên nó được triển khai rất đa dạng theo lô-gic của hoạt động tìm kiếm của học sinh. Kết quả là trong nhiều trường hợp nó trở thành học tập tổng hợp vượt qua cái khung môn học và ta có thể thấy học tập theo chủ đề tồn tại ở môn khoa học, xã hội ở trường tiểu học.

Học tập chủ đề theo nghĩa hẹp

Học tập chủ đề theo nghĩa hẹp chỉ phương pháp cấu thành nội dung của lịch sử thế giới và lịch sử Nhật  Bản được quy định trong bản Hướng dẫn học tập trung học phổ thông và là phương pháp khá phổ biến. Vì vậy từ đây trở đi sẽ chỉ giới hạn ở học tập chủ đề theo nghĩa hẹp.

Học tập chủ đề lần đầu tiên xuất hiện trong bản Hướng dẫn học tập ở phần lời nói đầu của nội dung lịch sử thế giới B ở trường trung học phổ thông. Ở đó, ví dụ về chủ đề, cách đưa ra chủ đề, muc tiêu đã được chỉ ra như dưới đây.

“Lịch sử thế giới B được tiếp cận sâu hơn Lịch sử thế giới A. Ở đó sẽ đưa ra các chủ đề cho như con đường tơ lụa và giao lưu Đông-Tây, sự phát triển của chính trị nghị viện ở Anh, khai phá miền Tây và chiến tranh Nam-Bắc, chiến tranh Nga-Thổ vf chính sách thế giới của các liệt cường…để học sinh học tập trên quan điểm chính trị, kinh tế, xã hội. Bằng việc này mà năng lực tư duy lịch sử của học sinh được nuôi dưỡng.

Trong Lịch sử thế giới B ở bản Hướng dẫn học tập năm 1960, học tập vùng văn hóa cũng xuất hiện và cùng với học tập theo chủ đề, nền tảng cơ bản của chương trình lịch sử thế giới  của nước ta cũng được xác lập ở đây. Mặt khác khi nói tới học tập theo hệ thống lịch sử thế giới thì nó có ý nghĩa là học tập thông sử và khi đó việc tiếp cận các sự kiện theo chiều ngang như giao lưu Đông-Tây hay các sự kiện có liên quan đến chính trị nước nhà trở nên khó khăn. Ở đó thứ xuất hiện   là học tập chủ đề với tư  cách là học tập tổng hợp liên quan tới chủ đề nhất định.

Thời kì này là giai đoạn thoái trào của giáo dục chủ nghĩa kinh nghiệm dựa trên học tập giải quyết vấn đề viên chức phụ trách điều tra sách giáo khoa của bộ giáo dục Hirai về sau đã hồi tưởng về sự du nhập học tập chủ đề như sau “ngay cả trong học tập hệ thống người ta cũng muốn đưa vào học tập giải quyết vấn đề chứa đựng quan điểm về học lực và phương pháp học tập ưu tú” (“lịch sử giáo dục môn Xã hội và triển vọng”, Hội giảng dạy thực tiễn giáo dục môn Xã hội hiện đại, 1991).

Sự tái sinh của học tập chủ đề

Học tập chủ đề được đưa vào trong bản Hướng dẫn học tập phần lịch sử Nhật Bản năm 1970 và về sau trải qua nhiều lần sửa đổi mà trở nên ổn định trong giáo dục lịch sử trường trung học phổ thông. Tuy nhiên, trên thực tế thì ở hiện trường giáo dục học tập chủ đề lại được tiếp nhận như là thứ bổ trợ cho học tập hệ thống kiểu thông sử và không phải là lý luận học tập kiểu giải quyết vấn đề. Vì vậy, học tập thông sử mang tính hệ thống với tư cách là đối sách cho kì thi đầu vào đại học đã được coi trọng và kết quả là thời gian thực hiện học tập chủ đề không đủ và dẫn tới việc học tập chủ đề chỉ là hình thức.

Trong bối cảnh đó, bản Hướng dẫn học tập năm 1999 ra đời với ý đồ tái sinh học tập chủ đề. Cùng với việc thiết lập mới nội dung học tập chủ đề đối với Lịch sử thế giới và Lịch sử Nhật Bản, bản hướng dẫn này còn coi học tập chủ đề là lý luận học tập thúc đẩy tính chủ thể của học sinh. Kết quả là có khả năng học tập thông sử mang tính hệ thống và học tập chủ đề có thể hoán đổi cho nhau.

Trước đó, do học tập chủ đề được coi là lý luận biên soạn nội dung cho nên sinh ra cái nhìn coi học tập hệ thống là chủ yếu và học tập chủ đề phải tuân theo. Tuy nhiên trong bản Hướng dẫn học tập năm 1999 đã đưa ra cơ cấu: nâng cao mối quan tâm, lòng mong muốn học tập lịch sử của học sinh bằng học tập chủ đề, sau khi làm cho học sinh có được cách học, cách điều tra thông tin thì tiến hành học tập hệ thống hoặc là dựa trên các tri thức mà học sinh thu nhận được từ học tập hệ thống mà tiến hành học tập chủ đề, vận dụng, phát triển nó. Học tập chủ đề đã không còn là thứ bổ trợ cho học tập hệ thống kiểu thông sử mà đóng vai trò chính nhằm phát huy tính chủ thể của học sinh trong học tập lịch sử.

 

Phương pháp học tập chủ đề

Bối cảnh của việc tái sinh học tập chủ đề là sự dao động của các tri thức truyền thống do sự thay đổi của xã hội và sự phê phán đối với các giờ học hàng loạt nhồi nhét tri thức. Vì vậy, việc đối sách thi cử đầu vào đại học trốn chạy vào trong học tập hệ thống kiểu  thông sử sớm hay muộn cũng tác động đến giáo dục lịch sử ở trường phổ thông. Do đó không thể nói cứ đặt ra học tập chủ đề là dễ dàng có được học tập với vai trò chủ thể của học sinh. Quả thật phương pháp luận về học tập chủ đề là chưa đủ. Dưới đây sẽ thuyết minh về bốn điểm.

Thứ nhất, cần phải xác định vị trí của học tập chủ đề trong kế hoạch chỉ đạo của năm và đảm bảo số giờ học cần thiết.

Thứ hai, về chủ đề, trên cơ sở mục tiêu của môn học, giáo viên đưa ra một số chủ đề dựa vào mối quan tâm, hứng thú của học sinh và khả năng có tư  liệu từ đó cho học sinh lựa chọn.

Thứ ba, do học tập chủ đề được phân chia thành học tập theo các chủ điểm (topic approach) và  học tập khái niệm (conceptual approach) cho nên cần tổ chức quá trình truy tìm trên cơ sở đặc trưng của từng loại. Ví dụ như đối với trường hợp (1) cánh cửa vào lịch sử thế giới” (i) “lịch sử thế giới nhìn từ cuộc sống thường ngày” trong Lịch sử thế giới B nó sẽ là học tập theo các chủ điểm. Giáo viên sẽ dựa trên mối quan tâm của học sinh mà chỉ đạo học sinh tìm kiếm đa phương diện về ăn, mặc, ở, giải trí, thể thao và làm cho học sinh cảm nhận về thế giới từ những địa điểm, vật gần gũi với mình. Trái lại (a) “Thời gian và không gian trong lịch sử thế giới” sẽ là học tập khái niệm. Giáo viên sẽ chỉ đạo học sinh học tập dựa trên các đầu mối là thời gian, lịch, bản đồ thế giới , làm cho học sinh nắm được sự khác biệt về cảm giác không gian và ý thức thời gian của mọi người theo thời đại, khu vực.

Thứ tư, kết quả tìm kiếm sẽ được học sinh thể hiện dưới dạng tiểu luận  hoặc phát biểu và đánh giá bởi bản thân giáo viên hay đánh giá chéo giữa các học sinh.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)