Học lực của môn Xã hội

 

1. Cách tiếp cận mang tính phân loại học.

 

Học lực của môn Xã hội là gì?

Định nghĩa này thật khó. Do cách tiếp cận “học lực” đa dạng cho nên có thể nói  khái niệm mang tính giáo dục học chưa được xác lập. Tuy nhiên có thể chỉnh lý lại cuộc tranh luận về học lực đã diễn ra từ trước đến nay. Một trong những phương pháp  là cách xem xét dưới góc độ phân loại học  những gì được coi là “học lực”- thứ đã được đề ra một cách phong phú.

 

Xem xét từ điểm này thì phương pháp  dùng các thuật ngữ như học lực mục tiêu, học lực đo đạc, học lực tiềm tàng của Tanikawa Akihide rất hiệu quả. Nếu như sử dụng  phương pháp  dùng thuật ngữ  này để thuyết minh ta sẽ có nội dung sau:

 

a.  Học lực mục tiêu:  học lực với tư cách là thứ mà giáo dục nhắm tới, là thứ giáo dục cần phải đạt được.

b. Học lực đo lường: học lực với tư cách là thứ đạt được, có thể đo lường được.

c. Học lực tiềm tàng :  học lực với tư cách là khả năng học tập đối với các vấn đề mới.

 

Nếu sử dụng phương pháp thuật ngữ này thì “Học lực mục tiêu”, được tiếp cận một cách tổng quát trong môn Xã hội,  sẽ là “Nhận thức xã hội”, “Phẩm chất công dân” hay là cả hai thứ đó.

 

Học lực đo lường trong môn Xã hội sẽ là “tri thức-kĩ năng cơ bản”.

 

Học lực tiềm tàng trong môn Xã hội sẽ là “năng lực tư duy” (năng lực tư duy lịch sử hay năng lực tư duy địa lý), năng lực sử dụng tư liệu, thêm nữa là mối quan tâm, lòng mong muốn, thái độ)

 

Tuy nhiên trong môn Xã hội thì vấn đề có coi toàn bộ a, b, c nói trên là “học lực” hay không và cái nào là trung tâm của học lực trong môn xã hội lại là vấn đề gây nhiều tranh luận và trên thực tế xung quanh việc xác định vị trí của “thái độ” đã diễn ra “cuộc tranh luận Otsuki-Ueda”.

 

2. Cách tiếp cận mang tính cấu tạo.

 

Từ lập trường tiếp cận học lực mang tính cấu tạo người ta có thể đưa ra  vô số các  mô hình học lực. Các đại diện tiêu biểu là Hirooka Ryozo, Katsuta Shuichi, Nakauchi Toshio.

Cũng giống như vậy, trong lĩnh vực môn Xã hội, cũng có rất nhiều cách tiếp cận. Ví dụ như như Honta Koei đã chỉ ra cấu tạo của học lực môn Xã hội được tạo ra từ “nhận thức xã hội khoa học”  vốn được hình thành từ tri thức cơ bản  cùng  sự hình thành khái niệm và “ý thức người làm chủ” có liên quan đến hình thành con người.

 

REPORT THIS AD

Mặt khác, Moriwake Takaharu đã chỉ ra mô hình cấu tạo học lực của môn Xã hội giống như dưới đây.

3. Các yếu tố cấu thành             

 

Tiếp cận học lực theo hướng cấu tạo thực ra là việc làm rõ các yếu tố cấu thành của nó.

Nói ngắn gọn thì “Nhận thức xã hội”  vừa là học lực vừa đóng có vai trò học lực mục tiêu của môn xã hội nhưng các yếu tố cấu thành bên trong nó  thì lại thay đổi tùy theo người bàn luận. Ví dụ như ý kiến của Honta và  trường hợp của môn Xã hội mới ở Mĩ được chỉ ra dưới đây

 

Mô hình cấu tạo học lực có trong cơ sở của chương trình môn Xã hội Taba.

 


Khái niệm chìa khóa.

Quan niệm chủ yếu.

Quan niệm hữu ích

(khái niệm mang tính khoa học xã hội, nguyên lý phổ biến)

Có được, phát triển và ứng dụng khái niệm, nguyên lý phổ biến.Khám phá cảm xúc-(giải quyết vấn đề con người cá nhân)-phân tích giá trị
Quan niệm mang tính tổ chức


Ví dụ như nội dung

(Tri thức mang tính sự thực-cơ sở lý giải thế giới)

 

Kĩ năng xã hội, học thuật.

ßTri thức khoa họcàß năng lực khám phá khoa họcà

 

Vấn đề này cũng giống như vấn đề về các yếu tố cấu thành của “phẩm chất công dân”. Có người coi năng lực quyết định ý chí là yếu tố trung tâm nhưng cũng có người cho rằng cần coi trọng ý thức người làm chủ, có người lại nhấn mạnh sự tự giác của công dân.

 

Thêm nữa, môn Xã hội trong “Bản hướng dẫn học tập” còn có học lực nhắm đến hai thứ là “lý giải đời sống xã hội” và “nền tảng phẩm chất công dân”. Học lực này được cụ thể hóa thành bốn yếu tố cấu thành là “mối quan tâm, lòng mong muốn, thái độ đối với hiện tượng xã hội”, “tư duy, sự phê phán xã hội”, “kĩ năng quan sát, sử dụng tư liệu, biểu đạt”, “tri thức, sự lý giải về hiện tượng xã hội”.

 

4. Nội dung học lực thay đổi tùy theo quan niệm về môn Xã hội.

 

Học lực còn được đưa ra bàn luận từ các quan điểm học lực “cao và thấp”, “học lực cơ bản và học lực ứng dụng (phát triển)”.

 

Cho dù thế nào, thì khỏi cần phải nói cũng biết học lực là năng lực được giáo dục thông qua chương trình nhất định bằng các hoạt động giảng dạy-học tập cụ thể ở trường học nơi giáo dục một cách có ý đồ, có kế hoạch. Chương trình và các hoạt động giảng dạy-học tập cụ thể đó lại thay đổi tùy theo thời đại và tùy theo môn Xã hội được coi là mơ ước. Và theo đó, nội dung bên trong của học lực cũng thay đổi theo.

 

Fukuda Kiichi trong tác phẩm “Lịch sử Nhật Bản của cha và con” (Nhà xuất bản Chuokoron, 1977) cho rằng mặc dù người ta tạo ra “kì thi chung” nhưng việc xấu tốt của kì thi đó đã chỉ rõ sự khác biệt của thế hệ học quốc sử trước chiến tranh và thế hệ học lịch sử kiểu nghiên cứu xã hội sau chiến tranh. Và tương tự, cả “tranh luận về sự sa sút của học lực môn Xã hội” được triển khai thời sơ kì hậu chiến cũng được thể hiện.

 

5. Vấn đề đặt ra

 

Ở nhiều nước ngoài không hề có từ “học lực”. Điều này nói lên rằng việc tạo ra một danh sách học lực có thể sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Tôi cho rằng cả việc tranh luận về học lực của môn Xã hội cũng thế, chỉ khi nào bàn luận về vấn đề làm thế nào cải thiện chương trình môn Xã hội hay các hoạt động học tập, giảng dạy cụ thể thì khi đó mới có ý nghĩa.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)


Cũ hơn Mới hơn