Hiện đại hóa giáo dục


  1. Định nghĩa và sơ lược sự ra đời phát triển.

    Theo nghĩa rộng hiện đại hóa giáo dục chỉ xu hướng cải cách giáo dục nhằm cải thiện chế độ, tổ chức, phương pháp, lấy nội dung giáo dục làm trung tâm diễn ra vào những năm 60 của thế kỉ XX. Theo nghĩa hẹp nó chỉ xu hướng cải cách giáo dục chủ trương đưa thành tựu tiên tiến của khoa học đương thời vào nội dung giáo dục.

Trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai, giáo dục Mĩ dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm là chủ yếu nhưng trong cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật sau chiến tranh sự phê phán đối với nền giáo dục này dâng cao. Kết quả là vào những năm 50 chủ trương đề xướng chương trình lấy “trung tâm là học thuật” đã được đưa ra.

Năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Sputnik đã tạo ra “Sputnik Shock” đối với nước Mĩ. Nhận thức cho rằng Mĩ đang chậm chân hơn Liên Xô về mặt khoa học-kĩ thuật trở nên mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó lý luận giáo dục của Bruner được đánh giá cao và áp dụng vào thực tiễn. Từ Mĩ xu hướng áp dụng lý thuyết của Bruner lan tỏa ra các nước khác trên thế giới. Sự cụ thể hóa học thuyết của Bruner được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Quá trình giáo dục” được thực hiện bằng việc chú trọng tới cấu tạo của nội dung giáo dục. Các nhà giáo dục cho rằng việc chú trọng cấu tạo của nội dung giáo dục sẽ nâng cao hiệu suất giảng dạy. Về phương pháp học sinh sẽ được đi lại con đường của nhà nghiên cứu theo kiểu “học tập phát hiện”.

Vào thời kì này ở Mĩ cũng diễn ra các dự án lớn đi kèm với các thí nghiệm ở khắp các địa phương như “Toán học UICSM”, “Vật lý PSSC” với vai trò trung tâm là các nhà khoa học và hiện trường giáo dục. Trong các dự án này xét về nội dung giáo dục người ta đã đưa vào các thành tựu khoa học tiên tiến nhất và dựa trên việc giảng dạy nó học sinh sẽ đi theo phương pháp lần tìm của nhà khoa học tức là phương pháp khám phá (thám hiểm). Nghĩa là giáo viên làm cho học sinh không chỉ có được nội dung tri thức mà còn giúp cho học sinh trải nghiệm quá trình đạt được tri thức đó.

Tuy nhiên vào những năm 70 trên thế giới bắt đầu xuất hiện nghi vấn đặt ra đối với các cuộc cải cách nội dung giáo dục. Những ý kiến phê phán các cuộc cải cách này xuất phát từ quan điểm về giáo dục con người.

  1. Ảnh hưởng đối với Nhật Bản

Sau khi tác phẩm “Quá trình giáo dục” của Bruner được phát hành ở Nhật Bản thì ảnh hưởng của nó có thể nhìn thấy rõ. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Nhật Bản dần tiến đến thời kì hoàng kim, giới công nghiệp đã đặt ra cho giáo dục yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực và yêu cầu hiện đại hóa nội dung giáo dục với trung tâm là các môn giáo khoa tự nhiên. Đi tiên phong trong quá trình hiện đại hóa giáo dục là Hiệp hội giáo dục toán học. Ở cấp độ hành chính giáo dục, động thái tiếp nhận xu hướng hiện đại hóa giáo dục là việc sửa đổi Bản hướng dẫn giảng dạy của Bộ giáo dục. Trước đó trong Sách trắng về giáo dục năm 1964 sau khi đề cập đến xu hướng hiện đại hóa của Âu Mĩ, Bộ giáo dục Nhật Bản cũng đã chỉ ra sự bất hoàn bị của giáo dục trước yêu cầu nâng cao năng lực, học lực cơ bản và chỉ ra tính tất yếu của khóa trình giáo dục mới, phương pháp giáo dục mới lấy giáo dục khoa học kĩ thuật làm trung tâm.

Xét riêng ở phạm vi môn Xã hội thì ảnh hưởng của hiện đại hóa giáo dục ở đây không mạnh mẽ như ở các môn giáo khoa khác như Toán học, Vật lý, Khoa học nhưng sự tranh luận về hiện đại hóa nội dung môn Xã hội cũng trở nên thịnh hành. Trong Bản hướng dẫn học tập, cùng với giáo dục phẩm chất công dân, việc tinh tuyển nội dung và giáo dục năng lực cũng được chú trọng. Mặt khác, trong các đoàn thể giáo dục dân sự do ảnh hưởng của hiện địa hóa giáo dục ở Âu-Mĩ từ khóa “cấu tạo hóa” đã được sử dụng phổ biến. Các phương pháp giáo dục mới cũng được đề xướng. Tuy nhiên bước vào thập niên 80 thì chủ nghĩa năng lực được coi trọng quá mức trong giáo dục đã gây nên hậu quả tai hại với những biểu hiện như sự gia tăng nặng nề lượng tri thức cần phải dạy dưới cái tên hiện đại hóa và trên thực tế người ta phớt lờ “quá trình” Bruner đề xướng mà biến nó đơn thuần là sự truyền đạt tri thức dẫn đến sự nặng nề, “chiến tranh thi cử”. Kết quả là từ sự phê phán giáo dục kiểu này, giáo dục “con người”, giáo dục “Yutori” đã ra đời và ngày một phát triển.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2006)

 

 


Cũ hơn Mới hơn