Giáo dục thông tin


  1. Nội dung của giáo dục thông tin

 

Với tư cách là Phương châm cơ bản của cải cách giáo dục hướng đến thế kỉ XXI, tháng 7 năm 1996 (năm Heisei thứ 8), Hội nghị thẩm định giáo dục trung ương đã đưa ra báo cáo  “Về giáo dục nước ta trong thế kỉ XXI” (Bản báo cáo lần thứ nhất) và Hội nghị  khóa trình giáo dục tháng 11 năm 1997 (năm Heisei thứ 9) đã đưa ra “Về phương hướng cơ bản cải cách tiêu chuẩn khóa trình giáo dục” (tóm tắt giữa kì). Trong các đề án này, nền giáo dục ứng phó với xã hội thông tin hóa cao độ được chỉ ra với tư cách là vấn đề quan trọng. Bên cạnh đó, vào tháng 7 năm 1998 (Năm Heisei thứ 10), Báo cáo “Về cải cách tiêu chuẩn khóa trình giáo dục của trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trường dành cho học sinh khiếm thính, khiếm thị và các trường giáo dục đặc biệt” được công bố, và từ tháng 4 năm 2002 (năm Heisei thứ 14) trở đi cải cách giáo dục hướng đến thực thi toàn diện khóa  trình giáo dục mới được tiến hành. Với tư cách là một bộ phận của cải cách giáo dục, giáo dục thông tin với ý đồ hình thành năng lực sử dụng thông tin đã được coi trọng.

 

Mục tiêu cơ bản của nó là “năng lực thực tiễn của việc việc sử dụng thông tin”, “hiểu biết một cách khoa học về thông tin”, “thái độ tham gia vào xã hội thông tin”. Tiếp nhận mục tiêu này, ở trường tiểu học sẽ nhắm đến việc sử dụng máy vi tính trong chỉ đạo học tập các môn khoa học mà tiêu biểu là “thời gian học tập tổng hợp” và sự hình thành  “năng lực sử dụng thông tin trong thực tiễn” cũng được hướng đến. Ở trường THCS, đặc biệt là trong môn “Kĩ thuật-gia đình” các nội dung liên quan đến “hiểu biết một cách khoa học về thông tin”, “thái độ tham gia vào xã hội thông tin” đã được đưa ra. Ở trường THPT, “Thông tin” với tư cách là môn giáo khoa mới được thiết lập, và nội dung đề cập đến ba mục tiêu: “sự hiểu biết một cách khoa học về thông tin”, “thía độ tham gia vào xã hội thông tin” “năng lực thực tiễn sử dụng thông tin” được đưa vào.

 

  1. Môn Xã hội và việc hình thành năng lực sử dụng thông tin.

 

Trong sự chỉ đạo học tập ở từng môn giáo khoa, trong mối quan hệ với biên soạn nội dung giáo dục thông tin, việc hình thành  năng lực sử dụng thông tin đã được nhấn mạnh là cần thiết. Ví dụ như, trong môn Xã hội đã đưa ra “ hoạt động học tập ở đó sử dụng tài liệu, khảo sát các hiện tượng xã hội,  để giáo dục thái độ và năng lực phê phán đúng đắn, sử dụng chính xác các phương tiện thông tin, thu thập các thông tin cần thiết, xử lý chúng và thể hiện kết quả đó một cách thích hợp”. Tóm lại, với tư cách là năng lực sử dụng thông tin, “năng lực thực tiễn sử dụng thông tin” đã được đặt ra. Một cách cụ thể, các năng lực sử dụng máy vi tính, máy đánh chữ, cơ sở dữ liệu (database), biểu thống kê…các phần mềm ứng dụng cũng được chỉ ra. Đặc biệt, vào năm 2013 (năm Heisei 13) cùng với việc tăng cường môi trường Internet liên kết các trường tiểu học, THCS, THPT trên toàn quốc, các thực tiễn giờ học đã sử dụng internet trong môn Xã hội.

 

  1. Giờ học môn Xã hội sử dụng Internet

 

Các chức năng chính của internet là “thư điện tử”, “tin tức online”, “truyền đạt các file” , “Word Wide Web” (WWW), “hội nghị trực tuyến”. Với tư cách là giờ học môn Xã hội sử dụng các kĩ năng này, các hình thái cơ bản sau được đưa ra:

 

(1) Hình thái thu thập, tìm kiếm thông tin.

 

Đây là hình thái sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Web, thư điện tử để thu thập các thông tin cần thiết. Ví dụ như, trong chủ đề “Giờ học về nước” ở lớp 5 tiểu học, bản thân học sinh tìm ra các chủ đề từ trong các vấn đề đánh cá ở gần bờ, đánh cá ở vịnh, đánh cá xa bờ, nuôi trồng thủy sản, giờ học sẽ tiến hành thu thập thông tin từ các trang Web liên quan đến nghề thủy sản cùng với thông tin thu thập được ở thư viện, các video…. Trong giờ học này, học sinh sẽ dựa trên các thông tin, tài liệu thu thập được để phê phán thông tin, tài liệu một cách thích hợp.

 

(2) Hình thái sử dụng giáo tài học tập.

 

Đây là hình thái tiến hành học tập tập thể hoặc cá nhân, sử dụng các trang web giáo tài. Phần lớn hình thái này được diễn ra dưới hình thức các phần mềm giáo tài-học tập được công bố trên các web. Ví dụ như trong Tangen (chủ đề) “Công nghiệp truyền thống” của lớp 5 tiểu học , các giờ học sẽ sử dụng thông tin thu thập được tham quan học tập, các CD-ROM về quá trình sản xuất, làm rõ ý thức vấn đề vối với  việc tham quan học tập thực tế. Trong giờ học như thế này sẽ diễn ra việc đề xướng vấn đề và truy tìm một cách chủ thể  do cá nhân học sinh hay một nhóm thiểu số các học sinh tiến hành.

 

(3) Hình thái giao lưu thông tin-ý kiến.

Đây là hình thái trao đổi thông tin, ý kiến nhờ vào thư điện tử và các tin tức online. Hình thái này cũng bao gồm cả hình thức “chat” và “hội thảo trực tuyến”. Ví dụ như trong Tangen “Công nghiệp sản xuất ô tô” ở lớp 5,  sẽ có giờ học điều tra về thông tin và tư duy của xí nghiệp thông qua trao đổi thư điện tử với xí nghiệp liên quan về tình thình sản xuất ô tô có quan tâm đến yếu tố môi trường. Trong các giờ học dạng này,  học sinh lắng nghe các nội dung muốn biết  trực tiếp từ những người liên quan, và tiến hành giao lưu xã hội. Ở hình thái sau thì trong Tangen “Phố của chúng ta” , giờ học sẽ diễn ra nhắm đến giới thiệu trường học, địa phương của bản thân học sinh và giao lưu lẫn nhau thông qua việc sử dụng màn hình giao lưu với học sinh trường khác. Trong các giờ học như thế này, học sinh sẽ hình thành được mạng lưới bạn bè ở ngoài địa phương và tiến hành hoạt động học tập cộng đồng dựa trên mạng lưới con người.

 

(4) Hình thái biên tập thông tin-ý kiến và truyền tin.

 

Đây là hình thái thông qua thư điện tử, tin tức online, các web mà thu thập thông tin, ý kiến, biên tập nó, chế tác ra web và công bố nó. Ví dụ như trong Tangen “bảo vệ môi trường”, học sinh thu thập thông tin bằng các tập hợp link về thông tin học tập, thiết lập vấn đề và tự bản thân khảo sát. Các vấn đề khảo sát được đó sẽ được truyền đi bằng các trang web. Học sinh cũng trao đổi ý kiến và bình luận về các trang web này. Trong các giờ học này, học sinh sẽ biết được cơ cấu tri thức của từng người thông qua thu thập, giao lưu thông tin và truyền tin.

 

Giống như chúng ta thấy trong  các giờ học môn xã hội sử dụng internet nói trên,  việc hình thành “năng lực thực tiễn sử dụng thông tin” thông qua sử dụng máy vi tính  đã có tác động mạnh mẽ có thể nói là thay đổi cả dạng thức tồn tại của giờ học.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 


Cũ hơn Mới hơn