Giáo dục môi trường



  1. Định nghĩa giáo dục môi trường

Người ta cho rằng Thuật ngữ giáo dục môi trường ở Nhật Bản bắt đầu được sử dụng vào đầu thập niên 70 khi tiếp nhận ảnh hưởng của sự ra đời Luật giáo dục môi trường của nước Mĩ. Trong bộ luật này đã định nghĩa giáo dục môi trường là “quá trình đưa ra mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo vây quanh con người, lý giải xem trong môi trường đó sự phân bố dân số, tài nguyên và sự cạn kiệt tài nguyên, bảo hộ thiên nhiên, vận tải, kĩ thuật, kế hoạch phát triển đô thị và nông thôn có mối quan hệ như thế nào đối với môi trường con người”. Tuy nhiên về sau tư duy cho rằng mục đích của giáo dục môi trường ngoài sự hiểu biết thì cần có thái độ và hành động cũng trở nên phổ biến. Một trong những nguyên nhân làm cho khó xác định định nghĩa là việc nội dung của vấn đề môi trường liên tục thay đổi nhưng cũng có khi thực tiễn gọi là giáo dục môi trường cũng làm mở rộng ngoại diên của nó.

Khi nói môi trường trong giáo dục môi trường thì đó là môi của tập đoàn người sinh sống mang tính xã hội trường (môi trường con người). Vấn đề môi trường là việc chỉ môi trường con người không thể tiếp tục tình trạng như mong muốn và ban đầu nó chỉ sự ô nhiễm môi trường quanh mình, nhưng dần dần nó liên kết với các vấn đề như tài nguyên, tài nguyên năng lượng, dân số, sự phát triển của thế giới thứ ba, hạt nhân, chiến tranh, nhân quyền và trở thành quần thể vấn đề khổng lồ. Vì vậy việc tranh luận về vấn đề môi trường hiện nay đề cập đến toàn bộ hiện trạng của xã hội nhân loại nửa sau thế kỉ XX với các vấn đề như khoa học kĩ thuật, kinh tế, chính trị, đạo đức…

  1. Mục đích của giáo dục môi trường.

Giáo dục môi trường nhằm tới giải quyết vấn đề môi trường và tạo ra môi trường con người tốt hơn. Do vậy, không chỉ có sự hiểu biết và nhận thức về vấn đề môi trường mà cả thái độ, hành động cũng trở thành mục đích của giáo dục. Hiến chương Beograd (1975) đã coi mối quan tâm, tri thức, kĩ năng, thái độ, lòng mong muốn, năng lực thực hành là mục đích giáo dục và Khuyến cáo Tbilisi (1977) đã coi mối quan tâm, ý thức rõ ràng, tri thức, giá trị quan, thái độ, năng lực thực hành, kĩ năng, mô hình hành động mới là mục đích giáo dục. Ở nước ta, Bản thông báo của Hội nghị bàn về giáo dục môi trường của Cục môi trường (1988) đưa ra sự hiểu biết, hành động có trách nhiệm và “Tài liệu chỉ đạo giáo dục môi trường-Bộ giáo dục (biên soạn mẫu) (1995) đã tổng hợp các nội dung trên thành “giáo dục mối quan tâm, nhận thức về môi trường và vấn đề môi trường, có sự hiểu biết và nhận thức về mối quan hệ giữa hoạt động của con người và môi trường, có kĩ năng, năng lực tư duy, năng lực phán đoán và thái độ hành động có trách nhiệm tham gia tích cực vào các hoạt động sáng tạo ra môi trường tốt đẹp hơn”.

Một khi vấn đề môi trường đặt ra thì việc nhắm tới sự giải quyết là đương nhiên, tất cả quá trình để làm điều đó không phải là được kì vọng ở tất cả các bậc học của trường học. Trong “Tài liệu chỉ đạo giáo dục môi trường (Bản dành cho trường THCS, THPT) (Bộ giáo dục, 1991) thì ở các lớp bậc thấp và bậc trung tiểu học, học sinh sẽ cảm thụ thiên nhiên, học sinh các lớp tiểu học bậc cao và THCS sẽ được giáo dục nhận thức về các vấn đề môi trường đang phải đối mặt và giáo dục để nắm được “mối quan hệ nhân quả, năng lực nắm vững mối quan hệ tương hỗ và năng lực giải quyết vấn đề”. Ở cấp THPT nhắm đến giáo dục tư duy tổng thợp về các vấn đề môi trường, sự phán đoán, sự lựa chọn thông minh, ý chí quyết định, thái độ và năng lực tham gia tích cực, chủ động vào việc cải thiện môi trường và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên trên thực tế thì các thực tiễn được diễn ra theo từng cấp lớp học. Vì vậy, đặc biệt ở trường tiểu học, có nhiều thực tiễn như học sinh không có nhận thức sự thực chính xác nhưng lại bị dồn ép thái độ hóa, hành động hóa hay là thực tiễn đơn giản mang tính đạo đức như không ném rác nhằm đến cải biến con người.

  1. Lịch sử giáo dục môi trường và vấn đề đặt ra từ giờ về sau.

Nguồn gốc của giáo dục môi trường nằm trong yêu cầu của phong trào bảo tồn thiên nhiên và phong trào phản đối ô nhiễm. Cả hai đều có điểm chung là xuất phát từ phong trào của công dân. Vì vậy về bản chất nó không thể không có mối quan hệ với sự tranh chấp giữa các đảng phái và sự đối lập giữa các giai tầng trong xã hội.

Từ nửa sau thập niên 70, điểm tập trung của vấn đề môi trường là sự di động từ ô nhiễm công nghiệp sang vấn đề môi trường kiểu đô thị, và có đặc điểm nhấn mạnh là ai cũng có thể là thủ phạm đồng thời là nạn nhân. Thêm nữa, còn có xu hướng coi trọng vấn đề như chất lượng cuộc sống, sự thoải mái hơn là vấn đề tổn hại sức khỏe và nhân quyền. Giáo viên đã lúng túng khi không nắm chắc mối quan hệ giữa giáo dục ô nhiễm và giáo dục môi trường. Cơ quan của Liên Hợp Quốc cũng đã nỗ lực phổ cập giáo dục môi trường một cách liên tục tuy nhiên các nguyên tắc như Hiến chương Beograd thì cũng chỉ dừng lại ở những lời trừu tượng.

Vào cuối thập nhiên 80 cụm từ vấn đề môi trường toàn cầu đã ra đời và trở thành vấn đề chính trị quốc tế. Sau Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển môi trường của Liên Hợp Quốc năm 1992, nó đã được nhận thức nhanh chóng rộng rãi trong xã hội. Xuất hiện các hoạt động thử nghiệm giờ học tự phát của giáo viên và các tạp chí giáo dục đã liên tục đăng tải nhiều thực tiễn về giáo dục môi trường. Trước sự dâng cao của mối quan tâm này, bộ giáo dục cũng có hành động đưa ra bản thông cáo và tài liệu như trước đó đã trình bày. Vấn đề môi trường toàn cầu là tên gọi tổng hợp cho nhiều hiện tượng được tạo thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau, sự giải thích về mặt lý luận một cách sáng tỏ cũng chưa kết thúc. Việc tổng hợp chúng dưới một cái tên về mặt tuyên truyền có thể thành công ở một mức độ nhất định nhưng ở góc độ giáo dục sự đơn giản ở mục đích bề nổi như “bảo vệ môi trường trái đất”, hay sự cấp thiết có tên “hành động là tiên quyết” có nguy cơ đưa tới các thực tiễn mang tính thái độ chủ nghĩa ưu tiên mục đích. Các hoạt động như trải nghiệm trồng trọt, chăn nuối, tái chế, giảm rác thải đã gặp phải bức tường. Thực tiễn từ giờ trở đi trở thành thứ quan trọng. Vào khoảng năm 1990 ở ngoài trường học, sự phát triển bừa bãi và các cơ sở xử lý chất thải dựa trên nền kinh tế bong bóng và Luật Resort. Tuy nhiên vấn đề này đã không trở thành chủ đề của giáo dục môi trường. Có thể thấy ở đây sự nông cạn của sự bùng nổ giáo dục môi trường.

Bước vào thập niên 90, nhờ một phần ảnh hưởng của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu năm 1992, lý luận về phương pháp giáo dục mới của Mĩ và các nước khác đã bắt đầu được giới thiệu thông qua các tổ chức môi trường NGO của người dân. Nature Game, hoạt động thám hiểm… với tư cách là học tập trải nghiệm đã được coi trọng.

Từ năm 2002 trở đi, giờ học tổng hợp chính thức được thực thi và giáo dục môi trường trở nên được coi trọng. Chúng ta chờ đợi sự triển khai giáo dục môi trường, thứ không bỏ qua lý luận về nội dung đã được tạo ra ở từng môn học và làm cho học sinh suy nghĩ về con đường của mình.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)