Giáo dục lịch sử cận hiện đại

Câu hỏi của người dân đặt ra đối với lịch sử cận hiện đại và Lịch sử học.

Hình ảnh lịch sử cận hiện đại cho dù là ở phương diện giáo dục lịch sử hay lịch sử học sau chiến tranh đều là thứ gây nên tranh luận. Ngay sau khi bại trận năm 1945, trong lòng quốc dân-những người trải nghiệm cuộc chiến tranh bi  thảm đã tồn tại những câu hỏi như “Nhật Bản cận đại đã lạc đường ở đâu? Tại sao lại dẫn đến cuộc chiến tranh bi thảm như thế này?”. Trước câu hỏi như vậy, người đưa ra câu trả lời sử dụng các từ khóa như “tính lạc hậu của xã hội Nhật Bản”, “tính bán phong kiến” là những người theo chủ nghĩa cận đại và các nhà sử học Mác- xít hấp thụ dòng chảy trước chiến tranh. Vì vậy mà cuốn sách “Lịch sử Showa” của các tác giả như Maruyama Masao, Oduka Hisashio, Tooyama Shigeki biên soạn đã trở thành best-seller. Kamei Katsuichi đã phê phán “Lịch sử Showa”   không đề cập tới tình cảm, biểu cảm của quốc dân và làm nổ ra cuộc tranh luận xunh quanh tác phẩm này.

Tuy nhiên từ giữa những năm 50 trở đi, phương hướng đặt ra câu hỏi của người dân thường đã có thay đổi lớn. Câu hỏi “Nhật Bản đã lạc đường ở đâu?” lùi bước thay vào đó là câu hỏi “Nhật Bản không có tài nguyên lại cận đại hóa muộn mà tại sao lại có thể tăng trưởng mạnh như thế này?”. Tình tiết chương hồi thể hiện một cách biểu tượng điều đó là câu văn “Nhật Bản đã không còn ở thời hậu chiến nữa” với giọng điệu lạc quan thay cho bi quan trong sách trắng kinh tế. Trong ý thức của quốc dân Nhật Bản đã không còn là thời hậu chiến nữa.

Bên cạnh đó, Liên Xô vốn được lý tưởng hóa như là một sự lựa chọn con đường cận đại hóa khác đã bị sứt mẻ uy thế vì động loạn ở Hungary và sự phê phán Xtalin. Điều này có tác động tới sự đánh giá của ý thức quốc dân đối với Nhật Bản hiện đại. Ý thức của quốc dân về sau cũng bị thay đổi lại bởi vấn đề ô nhiễm và cuộc chiến ở trường đại học nhưng về cơ bản thì phương hướng không thay đổi.

Sự ứng phó với câu hỏi đến từ bên ngoài giới học thuật.

Người đáp ứng câu hỏi của thường dân (Tại sao Nhật Bản thành công trong hiện đại hóa) và đem lại ảnh hưởng lớn đối với diễn đàn tranh luận không phải là các học giả nghiên cứu lịch sử Nhật Bản cận hiện đại mà là sự đề xướng vấn đề từ bên ngoài cùng hình ảnh lịch sử đó. Ví dụ như hình ảnh lịch sử được đưa ra trong “Quan điểm lịch sử sinh thái về văn minh” (sinh thái học)  của Umesao Tadao, “Cách nhìn mới về Nhật Bản cận đại” của học giả Mĩ Reischauer, E.O, …. Thêm nữa, sự cống hiến làm phổ cập hình ảnh lịch sử như trên còn là do sự phổ biến của các tiểu thuyết lịch sử và các phim truyền hình lịch sử được sản xuất từ nửa sau thập niên 60. Tiêu biểu là tác giả Shiba Ryotaro với một loạt các tác phẩm như “chuyến đi của Ryoma”, “Mây trên dốc”. Ông được mệnh danh là nhà văn của quốc dân.

Trước tình thế này, phản ứng của giới sử học chuyên nghiên cứu lịch sử Nhật Bản cận hiện  đại không phải khi nào cũng nhanh nhạy. Các tác phẩm như “Lịch sử tinh thần Minh Trị “ của Irogawa Okichi, “Cận đại hóa ở Nhật Bản và tư tưởng quốc dân” của Yasumaru là ngoại lệ. Xét về tổng thể giới học giả đã đặt các tác phẩm của mình ở một khoảng cách xa so với câu hỏi của thường dân mà tiếp tục ứng phó với câu hỏi “Nhật Bản đã lạc đường ở đâu” hoặc là né tránh vào lĩnh vực chuyên môn. Trên  thực tế hầu như không nhìn thấy tác phẩm sử học nào được học sinh, trí thức đọc rộng rãi vượt qua cái khung tập đoàn chuyên môn trong lĩnh vực sử học Nhật Bản cận hiện đại ngoài các tác phẩm đã kể trên. Đây là điều tương phản với lịch sử Nhật Bản thời trung thế.

Sự khai quật các hành vi ngược đãi và ý thức quốc dân

Trong bối cảnh tình hình nghiên cứu như trên, giáo dục lịch sử cận hiện đại đã vừa tiến hành phong trào  khám phá ở địa phương về các chủ đề nhất định kết hợp với việc khai phát giáo tài và tiến hành các thực tiễn ưu tú. Tuy nhiên ở điểm “Tại sao Nhật Bản lại lạc đường” thì giới giáo dục và giới nghiên cứu có điểm chung (cũng có người như Yasui Toshio tiến hành giờ học thảo luận đem lại cho học sinh sự lựa chọn trong lịch sử Nhật Bản cận hiện đại).

Khoảng cách giữa ý thức quốc dân và nghiên cứu, giáo dục lịch sử cận hiện đại đã trở nên lớn hơn trong thời kì tăng trưởng kinh tế. Đối với thế hệ không biết gì ngoài một Nhật Bản giàu có thì để họ có trong mình câu hỏi “Nhật Bản đã lạc đường ở đâu” thì trước tiến cần phải làm cho họ đối mặt với “chiến tranh đã bi thảm như thế nào?”. Trên thực tế, nghiên cứu và giáo dục lịch sử Nhật Bản cận hiện đại thập niên 80 đã nghiêng về hướng sự bi thảm của chiến tranh và tội ác của quân Nhật. Điều này đối với các nhà chuyên môn thì đây là khám phá quan trọng nhưng đối với học sinh sống trong xã hội giàu có thì nó khó hiểu. Và tình trạng này tạo nên cái vòng luẩn quẩn.

Sự phê phán giáo dục lịch sử cận hiện đại của Fujioka Nobukatsu.

Trước tình hình này từ năm 1994 trở đi Fujioka Nobukatsu bắt đầu tiến hành phê phán giáo dục lịch sử cận hiện đại. Fujioka cho rằng “giáo dục lịch sử cận hiện đại sau chiến tranh thiếu đi sự tự hào đối với lịch sử nước mình và không đem lại trí tuệ cũng như dũng khí cần có cho tương lai. Cần phải chinh phục quan điểm lịch sử của phiên tòa Tokyo-thứ đã bôi đen lịch sử cận hiện đại Nhật Bản”. Phát biểu này của Fujioka đã làm nổ ra cuộc tranh luận lớn. Ý kiến của Fujioka đã làm nảy sinh cuộc tranh luận sau cuộc tranh luận về “lịch sử showa”. Ý kiến này không có gì là mới nhưng nó đã lôi kéo đông đảo các học giả, giáo viên, công dân, nhà nghiên cứu và hiện vẫn đang tiếp diễn.

Vấn đề đặt ra đối với giáo dục lịch sử cận hiện đại.

Tôi muốn đưa ra ở đây 3 vấn đề của giáo dục lịch sử cận hiện đại.

Thứ nhất, không được né tránh câu hỏi mà thanh niên, học sinh và người dân đưa ra “tại sao Nhật Bản hiện đại hóa thành công” mà phải tiến hành các nghiên cứu về giáo tài để đáp ứng.

Thứ hai, cho dù làm nổi lên ánh sáng và bóng tối của lịch sử Nhật Bản thì cũng cần phải tiến hành các giờ học thảo luận, tranh luận.

Thứ ba, cần đưa ra các quan điểm và hình ảnh lịch sử trên cơ sở xem xét bối cảnh đưa ra câu hỏi của người dân, thanh niên, học sinh đồng thời có liên hệ với các nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản thời trung đại.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)