Giáo dục hiểu biết quốc tế



 1. Tên gọi “Giáo dục hiểu biết quốc tế”

Cụm từ “giáo dục hiểu biết quốc tế” ở nghĩa rộng được dùng để chỉ giáo dục  nhắm đến lĩnh vực quốc tế bao gồm giáo dục toàn cầu, giáo dục phát triển… và xét ở nghĩa hẹp nó được dùng để chỉ sự ứng phó của giáo dục Nhật Bản đối với trào lưu “giáo dục vì sự hiểu biết quốc tế”của UNESCO. Tuy nhiên ngay cả ở trường hợp sau cũng có nơi tuân thủ trung thành với khuyến cáo của Liên hợp quốc năm 1974 dưới tên gọi là Giáo dục quốc tế và cũng có những sự ứng phó đa dạng khác tùy theo người dùng vì vậy việc nắm chắc ý nghĩa thống nhất của thuật ngữ là điều khó khăn.

 

2. Sự ứng phó của UNESCO

 

Giống như trong lời nói đầu của Hiến chương UNESCO “Bởi vì chiến tranh là thứ sinh ra từ trái tim con người cho nên cần phải xây dựng thành trì hòa bình ngay trong trái tim con người. Việc không hiểu biết lẫn nhau về phong tục và cuộc sống là nguyên nhân chung làm nảy sinh  nghi ngờ và sự  bất tín giữa các dân tộc trên thế giới  trong suốt lịch sử nhân loại.  Do sự nghi ngờ và bất tín này mà  sự  bất đồng giữa các dân tộc đã làm cho chiến tranh thường xảy ra”, xuất phát từ sự phản tỉnh sâu sắc về sự lặp lại của chiến tranh thế giới,  dựa trên triết lý cơ bản  cho rằng để thực hiện được hòa bình thì giáo dục hiểu biết quốc tế là không thể thiếu, UNESCO sau Chiến tranh thế giới thứ II đã đảm nhận vai trò trung tâm trong việc xúc tiến giáo dục hiểu biết quốc tế.

 

Ban đầu UNESCO gọi đó là “Giáo dục vì sự hiểu biết quốc tế” (Education for International Understanding) nhưng về sau tên gọi thay đổi liên tục và từ 1955 trở đi thì được đổi tên thành “Giáo dục vì hiểu biết và hợp tác quốc tế” (Education for International Understanding and Cooperation). Ở Nhật Bản nó được gọi tắt là “Giáo dục hiểu biết quốc tế”.

 

Năm 1952, UNESCO đã đưa ra quyết nghị thực thi hoạt động thực tiễn ở phạm vi cộng đồng quốc tế nhằm so sánh, xem xét sự thử nghiệm thực tế của giáo dục hiểu biết quốc tế và dựa trên cơ sở đó nó đã được tiến hành ở các trường THCS thuộc  liên minh 15 nước trong đó có Nhật Bản. Về sau nó được gọi là “Dự án trường học hợp tác UNESCO” (UNESCO Associated Schools Project) và ở Nhật Bản nó cũng được triển khai với trọng tâm từ giữa thập niên 50 đến  thập niên 60. Đương thời ba vấn đề  “nghiên cứu về nhân quyền”, “nghiên cứu về nước khác”, “nghiên cứu về Liên hợp quốc” đã trở thành trụ cột của giáo dục hiểu biết quốc tế và để lại thành quả nghiên cứu đáng quý nhưng không thấy triển khai rộng rãi tới các trường học thông thường.

 

Về sau, trong bối cảnh tình hình thế giới có sự thay đổi lớn, vào thập niên 70  trọng tâm đã được đặt vào mối quan hệ phụ thuộc tương hỗ mang tính quốc tế và  việc thu hẹp sự cách biệt giữa Nam-Bắc thay vì là  sự hiểu biết giữa các quốc gia. Trong Đại hội  lần thứ 18 năm 1974 UNESCO đã đưa ra “Khuyến cáo về giáo dục hiểu biết quốc tế, hợp tác, hòa bình và giáo dục vì nhân quyền và tự do cơ bản”, nhấn mạnh  tính tất yếu của sự liên kết và hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề  quy mô thế giới như quyền của các dân tộc, duy trì hòa bình, nhân quyền, phát triển, tài nguyên, môi trường …

 

2. Sự tiến hành ở Nhật Bản


Ở Nhật Bản vào năm 1974 (năm Showa 49), Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương đã đưa ra bản báo cáo “Về giao lưu giáo dục, học thuật, văn hóa quốc tế”, hướng đến “giáo dục người Nhật sống trong xã hội quốc tế”, công bố chính sách giáo dục ứng phó với quốc tế hóa với ba trụ cột là: 1. Giao lưu quốc tế, 2. Giáo dục ngoại ngữ, 3. Giáo dục trẻ em nữ trở về nước.

 

Bước vào thập niên 80, cùng với sự quốc tế hóa mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế, trong bối cảnh nảy sinh sự cần thiết của việc ứng phó với sự quốc tế hóa ở cả phương diện đời thường, vấn đề “người Nhật trong lòng thế giới” đã được đưa ra bàn luận rộng rãi, Hội đồng giáo dục lâm thời (1984-1987) đã đưa ra “Ứng phó với sự biến đổi quốc tế hóa, thông tin hóa”. Năm 1987 (năm Showa 62) Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục đã nhấn mạnh: “Làm sâu sắc hiểu biết quốc tế, coi trọng giáo dục thái độ tôn trọng văn hóa và truyền thống của nước ta”, chỉ ra tính cần thiết của sự tự giác và trách nhiệm với tư cách là người Nhật sống trong xã hội quốc tế.

 

Thêm nữa, bằng  báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng giáo dục, giáo dục hiểu biết quốc tế đã được xúc tiến  và đưa ra 3 điểm: 1. Giáo dục năng lực cùng chung sống trong môi trường đa văn hóa, 2. Sự xác lập của bản thân với tư cách là cá nhân, 3. Giáo dục năng lực giao tiếp. Trong Bản hướng dẫn học tập năm 1999 (năm Heisei 11), “Thời gian học tập tổng hợp” đã được đưa ra với tư cách là mô hình mẫu, sự hiểu biết quốc tế trong  khóa trình giáo dục đã có được vị trí của mình và duy trì đến hiện tại.

 

3. Xu hướng giáo dục hiểu biết quốc tế mới.

 

Từ khoảng thập niên 80 trở đi xu hướng giáo dục hiểu biết quốc tế mới của Âu Mĩ đã được giới thiệu, du nhập vào Nhật Bản. Giáo dục toàn cầu đã được bắt đầu ở Mĩ từ thập niên 70, các vấn đề mở rộng ở quy mô toàn cầu như tranh chấp, vấn đề nhân quyền, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, phát triển, môi trường… đã dần được tư duy từ lập trường “công dân toàn cầu” và ở Anh nó được được triển khai với tên gọi “World Studies”.

 

Thêm nữa, giáo dục phát triển từ sau thập niên 60 khi vấn đề Nam-Bắc trở nên trầm trọng đã nhắm đến giáo dục ý thức “công dân toàn cầu” nhắm giới việc lý giải nguyên nhân và tình hình của các nước đang phát triển, hướng tới giải quyết vấn đề Nam-Bắc.

 

Trái lại, giáo dục đa văn hóa đã ra đời từ trong phong trào đấu tranh đòi quyền công dân ở Mĩ thập niên 60.  Đây là phong trào tôn trọng tính quy thuộc của  văn hóa dân tộc  của dân tộc thiểu số và văn hóa di dân trong quốc gia đa dân tộc vì vậy Nhật Bản, với mục tiêu “Quốc tế hóa bên trong”,  đã tiến hành giải quyết vấn đề người nước ngoài sống trên đất Nhật Bản.

Từ lập trường xúc tiến giáo dục hiểu biết quốc tế mới như trên, ở Nhật Bản người ta một mặt phê phán giáo dục Nhật Bản chỉ thu hẹp ở việc lấy trung tâm là giáo dục lý giải đa văn hóa trong khi tầm nhìn thế giới yếu, tuy nhiên nhiều người cũng bày tỏ mối nghi ngờ đối với bản thân khái niệm “công dân toàn cầu”.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000).


Cũ hơn Mới hơn