Đánh giá theo quan điểm


Định nghĩa

Là hình thức đánh giá được tiến hành theo quan điểm nhìn nhận tình huống hiện thực của mục tiêu nhất định về quá trình, kết quả học tập. Ở nước ta nó dùng để chỉ hình thức đánh giá  theo từng quan điểm được thiết lập dựa trên tình hình hiện thực có tham chiếu với mục tiêu của từng môn học được chỉ ra trong bản Hướng dẫn học tập. Trong  biên bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1991, ở phần “Hồ sơ liên quan đến chỉ đạo” có góc dành cho “hồ sơ về học tập của từng môn giáo khoa” và được tạo thành từ “I.Tình hình học tập theo quan điểm”, “II.Đánh giá”, “III. Ý kiến”. Trong đó “Tình hình học tập tùy theo quan điểm” là sự thừa nhận nội dung hiện hành được đưa vào từ biên bản sửa đổi Hướng dẫn học tập năm 1980. “Đánh giá theo quan điểm”được nói tới ở đây là một trong những đánh giá nằm trong hoạt động giáo dục thường ngày được diễn ra nhằm tóm tắt “tình hình học tập theo quan điểm”.

 Qúa trình

Trong hồ sơ sửa đổi bản Hướng dẫn học tập năm 1991, ở phần mục đích sửa đổi đã xác định học lực muốn giáo dục trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1989 có vị trí như là quan điểm học lực mới à ghi rõ “đặt trọng tâm vào việc giáo dục lòng mong muốn tự mình học tập, năng lực tư duy và năng lực phê phán”. Tiếp nhận điều này, trong hồ sơ bản hướng dẫn học tập sửa đổi năm 1991 ở phần về “Tình hình học tập theo quan điểm” đã chỉ ra môn Đời sống được tạo thành từ 3 quan điểm còn lại các môn học khác được tạo thành từ 4 quan điểm và điểm chung giữa chúng là “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ”, “tư duy-phê phán”, “kĩ năng-biểu hiện”, “tri thức-lý giải”  nhưng ngoài “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ” ra thì tùy theo từng môn học và sự diễn đạt lại khác nhau.

Ở từng môn học phần đầu đều xác định vị trí của “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ”. “Giáo dục lòng mong muốn học tập” được coi trọng với tư cách là quan điểm học lực mới. Thêm nữa, “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ”  trong bản Hướng dẫn học tập năm 1980 được thừa nhận với tư cách là quan điểm có đưa vào “mối quan tâm-thái độ” cho nên về sau nó trở thành điểm chung của các môn học. Tuy nhiên khi đổi sang thành “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ”, chúng được đặt ở phần đầu và nhấn mạnh. Đồng thời nó cũng thể hiện sự coi trọng giáo dục năng lực tư duy trong quan điểm mới về học lực ở từng môn giáo khoa.

Đối với môn Xã hội, nó đã tiếp nhận 4 quan điểm là “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ”, “tư duy-phê phán”, “kĩ năng-biểu hiện” và ở môn Xã hội cấp tiểu học là “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ đối với các hiện tượng xã hội”, “tư duy phê phán xã hội”, “tri thức-lý giải về các hiện tượng xã hội”’; ở môn Xã hội THCS là “mối quan tâm-lòng mong muốn-thái độ đối với các hiện tượng xã hội”, “tư duy phê phán xã hội”, “kĩ năng sử dụng tư liệu-biểu hiện”, “tri thức-lý giải về hiện tượng xã hội”. Thêm nữa, ở môn Xã hội trường tiểu học, “Quan sát” dựa trên các giai đoạn phát triển và quan điểm giáo khoa cũng được đưa vào.

Vấn đề đặt ra

Đánh giá theo quan điểm có các ưu điểm sau:

(1) Có thể tiến hành chỉ đạo nhằm thực hiện việc học tập dựa trên các mục tiêu theo từng quan điểm khách quan.

(2) Có thể tránh được việc học tập  xa rời phương hướng đã xác định ban đầu

(3) Có thể thực hiện được việc học tập phát huy đặc trưng bên trong của từng cá nhân.

Vấn đề đặt ra là các nội dung được phân loại với tư cách là quan điểm có  đầy đủ trong vai trò là môn Xã hội hay không, việc đưa vào từng quan điểm có thích hợp hay không?

Đánh giá theo quan điểm xét ở ý nghĩa nhất thể hóa đánh giá và chỉ đạo thì có dù có thể tiến hành đánh giá tương ứng với các nội dung được phân loại đi chăng nữa thì về việc so thực hiện được mục tiêu của từng quan điểm hay không vẫn khó có thể nói rằng trong việc chuyển từ “đánh giá tiêu chuẩn” sang “đánh giá quy chuẩn” đã được nghiên cứu và thực hiệc hiện đầy đủ trong thực tiễn.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)