Chiến lược giáo dục của Nhật Bản trong thế kỉ 21

Lời người dịch: Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương là “think tank” của chính phủ Nhật chuyên trách về vấn đề giáo dục. Hội đồng này chịu trách nhiệm cao nhất trong việc biên soạn các chiến lược, chính sách về giáo dục ở tầm vĩ mô.

Bản dịch dưới đây là bản dịch tóm tắt bản báo cáo lần thứ nhất của Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương, bản báo cáo có ảnh hưởng quan trọng đến quan điểm, nội dung của bản “Hướng dẫn học tập”-văn bản chỉ đạo toàn bộ mục tiêu, nội dung, phương pháp ở giáo dục phổ thông của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản. Tiêu đề “Chiến lược giáo dục của Nhật Bản trong thế kỉ 21” là do người dịch đặt.

Dẫn nhập

Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương vào tháng 4 năm 1995 đã tiến hành nghiên cứu sau khi tiếp nhận yêu cầu tư vấn về chủ đề nói trên từ Bộ trưởng Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản.
Sau khi công bố “bản tóm tắt kết quả hội nghị” vào tháng 6 cùng năm thì Hội nghị đã tóm tắt lại thành bản báo cáo lần thứ nhất như ở đây.
Cấu trúc của bản báo cáo lần thứ nhất như sau:
Phần 1. Giáo dục từ giờ về sau
Phần 2. Vai trò và sự hợp tác giữa trường học, gia đình và xã hội địa phương.
Phần 3. Giáo dục và sự ứng phó của nó đối với sự biến đổi của xã hội quốc tế hóa, thông tin hóa, phát triển khoa học kĩ thuật.
Từ giờ về sau, Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương dự định sẽ tiến hành bàn luận về “giáo dục ứng phó thích hợp với năng lực của từng người và sự cải thiện mối liên hệ giữa các trường học”.

Phần 1. GIÁO DỤC TỪ GIỜ VỀ SAU
Hiện trạng của trẻ em

– Có những mặt tích cực tuy nhiên vẫn tồn tại những vấn đề như : đời sống không có sự thong thả, thiếu tính xã hội, gặp vấn đề về giá trị quan luân lý, vấn đề về sức khỏe, thể lực, chậm tự lập,.
– Năng lực giáo dục của gia đình, xã hội địa phương có xu hướng suy giảm.

– Xã hội từ giờ về sau sẽ phát triển mạnh mẽ theo hướng quốc tế hóa, thông tin hóa, phát triển khoa học kĩ thuật. Đó là thời đại biến đổi mạnh mẽ, thời đại mà đích đến không rõ ràng.
Phương phướng cơ bản của giáo dục từ giờ về sau

– Coi trọng những giá trị bất biến vượt thời đại như tính nhân văn phong phú đồng thời cần tới nền giáo dục đáp ứng chính xác, nhanh chóng sự biến đổi của xã hội.

– Phẩm chất và năng lực được đòi hỏi từ giờ về sau là “Năng lực sống” trong xã hội biến đổi mạnh mẽ.

– Năng lực tự mình phát hiện vấn đề, tự học, tự suy nghĩ, tự chủ phán đoán và hành động giải quyết vấn đề.

– Có sức khỏe và thể lực để sống sôi nổi với tính người phong phú như vừa tự lập vừa hợp tác với người khác, có tấm lòng quan tâm tới người khác và trái tim biết cảm động.

– Trong giáo dục từ giờ về sau sẽ coi trọng việc giáo dục “năng lực sống” thông qua toàn bộ trường học, gia đình, xã hội địa phương. Để giáo dục “năng lực sống” thì cần phải thúc đẩy mạnh hơn tư duy tôn trọng cá tính.

Quan điểm giáo dục “năng lực sống”

– Xúc tiến giáo dục có sự cân bằng trong sự liên kết giữa nhà trường, gia đình, xã hội địa phương và làm phong phú giáo dục trong gia đình, xã hội địa phương.
– Gia tăng cơ hội trải nghiệm đời sống và trải nghiệm thiên nhiên của trẻ em
– Triển khai giáo dục trường học coi trọng giáo dục “năng lực sống”
– Đảm bảo sự “thong thả” giữa trẻ em và toàn thể xã hội (Để giáo dục được “năng lực sống” cho trẻ em thì phải làm cho trẻ em và cả xã hội có được sự “thong thả”).

Các vấn đề đặc biệt quan trọng

– Làm mềm đi sự cạnh tranh quá mức cần thiết trong thi cử (vấn đề này sẽ tiếp tục được thảo luận trong cuộc họp chính từ giờ về sau)
– Vấn đề bắt nạt, cự tuyệt trường học
– Bắt nạt, cự tuyệt trường học là vấn đề có liên quan sâu sắc đến xã hội hiện đại và là vấn đề đặt ra cho toàn thể xã hội. Với tư cách là một cách lý giải về bối cảnh đằng sau của nó, người ta cho rằng xã hội của chúng ta là “xã hội bị chi phối bởi sự đồng chất”.
– Loại bỏ tư duy đồng chất, coi trọng cá nhân, giáo dục thái độ tôn trọng cá tính và giá trị quan như thế làm cơ sở nền tảng.

Biện pháp

– Tiến hành hợp tác mật thiết giữa gia đình, trường học, xã hội địa phương.

– Giáo dục giá trị quan luân lý cơ bản trong gia đình và giáo dục tạo ra những trẻ em gắn bó với quê hương.

– Xây dựng nên các trường học coi trọng từng người một sao cho từng học sinh cảm thấy như mình có thể cảm nhận được trong thực tế niềm hạnh phúc của việc thể hiện bản thân và sự tồn tại của mình.

– Xác lập sự ứng phó thống nhất với trường học và tư thế mạnh mẽ không khoan thứ đối với nạn bắt nạt.

– Làm phong phú thể chế tư vấn giáo dục của trường học với sự giúp đỡ của các chuyên gia và xây ựng thể chế tư vấn giáo dục ngoài trường học.

– Vận hành trường học mở trong sự liên kết với gia đình và các tổ chức khác (mềm hóa hơn nữa việc “đổi trường” của học sinh, sử dụng tích cực phòng học thích hợp, “xem xét việc sử dụng hiệu quả “kì thi kiểm định trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở” với tư cách như là phương tiện trung gian dành cho trẻ em cự tuyệt trường học.

– Khi tiến hành hướng dẫn trẻ em cự tuyệt trường học thì không chỉ chú ý đến việc làm cho các em quay trở lại với bạn bè, cuộc sống trước đó mà còn phải có biện pháp được tiến hành chậm rãi trong một khoảng thời gian để phát triển cá tính các em bằng quá trình các em vượt qua được việc cự tuyệt trường học.

PHẦN 2. VỀ VAI TRÒ VÀ SỰ LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG HỌC, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG

Chương 1. Về giáo dục trường học từ giờ về sau

Lấy giáo dục “năng lực sống” làm nền tảng, hướng đến việc chuyển đổi từ giáo dục có xu hướng dạy nhồi nhét tri thức sang giáo dục tự học, tự mình suy nghĩ. Để thực hiện được điều này, trường học phải triển khai các hoạt động giáo dục có sự “thong thả” coi trọng từng học sinh trong môi trường giáo dục có tính “thong thả”.

Khi sửa đổi khóa trình giáo dục tiếp theo

– Tuyển chọn kĩ nội dung giáo dục và thực hiện triệt để việc biên soạn nên nền tảng cơ bản.
– Tuyển chọn nội dung giáo dục kĩ tạo ra nền tảng căn bản, giảm thời lượng giờ học (lựa chọn nội dung để tránh trùng lặp các nội dung giữa các bậc học, năm học dễ rơi vào tình trạng dạy ghi nhớ kiến thức thuần túy).

– Cần nghiên cứu đầy đủ tính cần thiết của việc sử dụng nội dung ứng phó với nhu cầu mới của xã hội trong giáo dục trường học và trong trường hợp đưa vào nội dung mới thì cần phải lựa chọn kĩ để bỏ đi những nội dung có tính cấp thiết thấp.

– Xúc tiến giáo dục nhằm phát huy cá tính của từng học sinh (linh hoạt hóa khóa trình giáo dục, cải thiện phương pháp chỉ đạo, xúc tiến mạnh hơn việc xây dựng nên các trường học đặc sắc)

– Mở rộng biên độ lựa chọn số lượng giờ học đối với từng môn giáo khoa ở cấp trung học cơ sở.

– Cắt giảm số đơn vị tín chỉ và nội dung của các môn học, phân môn bắt buộc ở trường trung học phổ thông, mở rộng sự lựa chọn của học sinh. Đối với hoạt động tình nguyện, các đơn vị tín chỉ ở đại học sẽ xem xét tích cực việc mở ra con đường công nhận tín chỉ theo phương thức của từng trường. Xúc tiến chuẩn bị môi trường vật chất cần thiết cho việc học tập môn tổng hợp ở trong phạm vi khu vực học sinh đi học.

– Cải cách giáo dục để giáo dục nên con người có tính người phong phú và và thân thể khỏe mạnh.

– Làm phong phú hơn nữa giáo dục tạo ra tính người phong phú thông qua tất cả các hoạt động giáo dục như giáo dục đạo đức, hoạt động đặc biệt, các môn giáo khoa. Khi đó, đặc biệt cần phải làm phong phú các hoạt động trải nghiệm như hoạt động tình nguyện, trải nghiệm thiên nhiên, trải nghiệm nơi làm việc.
– Thúc đẩy các thực tiễn hoạt động nâng cao sức khỏe thân thể và tâm hồn cũng như các hoạt động thể thao thường ngày, xây dựng nền tảng cho cuộc sống khỏe mạnh suốt cả cuộc đời.

– Để thúc đẩy thêm nữa sự chỉ đạo theo chiều ngang, chỉ đạo tổng hợp, cần phải tạo ra thời gian bằng việc tuyển chọn nghiêm ngặt nội dung giáo dục của từng môn giáo khoa và đặt ra thời gian nhất định (thời gian học tập tổng hợp)

– Với tư cách là hoạt động học tập trong thời gian này sẽ có học tập tổng hợp, học tập theo chủ đề, học tập trải nghiệm về hiểu biết quốc tế, thông tin, môi trường, tình nguyện, trải nghiệm tự nhiên tuy nhiên cần phải triển khai tùy theo tình hình thực tế của các cấp học, các giai đoạn phát triển của học sinh và địa phương để phát huy được sự công phu, sáng tạo dựa vào sự quyết đoán của từng trường học. Khi đó không tiến hành đánh giá điểm số dựa vào thành tích thi cử.

Để sửa đổi khóa trình giáo dục trong tương lai

– Cần phải bắt đầu nghiên cứu khẩn trương về cơ cấu của các môn giáo khoa trong tương lai bao gồm cả việc tái cơ cấu và thống hợp các môn giáo khoa. Để làm được, cần phải thành lập Ủy ban thường vụ đảm trách việc nghiên cứu điều tra liên tục về chúng nằm trong Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục và kết quả thẩm định đó phải được phản ánh trong chính sách thực thi.
Xây dựng các điều kiện cần thiết để thực hiện giáo dục trường học mới.

– Để thực hiện được giáo dục trường học mới, cần nỗ lực xây dựng các điều kiện khác nhau.

– Cải thiện việc bố trí giáo viên (Tiến gần tới tiêu chuẩn số lượng học sinh/01 giáo viên tương đương với Âu Mĩ)
– Nâng cao năng lực, phẩm chất của giáo viên (làm phong phú và cải cách việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cải cách việc tuyển dụng giáo viên)

Đặc biệt về đào tạo giáo viên cần phải nghiên cứu về việc cải cách, làm phong phú việc lựa chọn, bố trí các môn học về nghề nghiệp bao gồm cả tư vấn giáo dục, hoạt động thực tập giáo dục, việc đào tạo sử dụng khóa trình thạc sĩ…Ngoài ra cần cố gắng cải cách việc nghiên cứu, giáo dục ở các đại học đào tạo giáo viên.

– Sử dụng những người trưởng thành bên ngoài trường học (sử dụng chế độ thỉnh giảng đặc biệt, gia tăng số giáo viên ALT, SE).
– Xây dựng môi trường giáo dục bao gồm cả các cơ sở trường học (môi trường tạo ra sự thong thả, tạo ra môi trường có mạng lưới thông tin).

– Hợp tác với các cơ quan, nhà chuyên môn có liên quan (tư vấn học đường), tăng cường, bổ sung việc bố trí nhân viên tư vấn học đường.

– Làm phong phú giáo dục mầm non (Cần phải xem xét về giáo dục trẻ thời kì ấu nhi từ tầm nhìn rộng rãi như làm phong phú chức năng các nhà trẻ, trường mẫu giáo ở địa phương với tư cách như là trung tâm giáo dục trẻ).

– Làm phong phú giáo dục có cân nhắc đến trẻ khuyết tật (giáo dục “năng lực sống” cho trẻ bị khuyết tật, làm phong phú và cải cách nội dung, phương pháp giáo dục đứng trên quan điểm làm cho trẻ có thể tự lập và tham gia vào xã hội ở phạm vi có thể, xây dựng các điều kiện phục vụ giáo dục, xúc tiến giáo dục giao lưu, xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non và đại học, làm phong phú giáo dục nghề nghiệp, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên).

Chương 2. Giáo dục gia đình từ giờ về sau

– Người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với việc giáo dục trẻ và hình thành nhân cách của trẻ là gia đình. Giáo dục gia đình sẽ giáo dục các phẩm chất, năng lực cơ bản của “năng lực sống” thông qua việc tương tác qua lại của trẻ với gia đình và là xuất phát điểm của tất cả giáo dục.

– Việc đảm bảo thời gian bên gia đình rất quan trọng. Để làm được điều đó thì cần xúc tiến các điều kiện nhằm đảm bảo sự “thong thả” trong toàn thể xã hội.

– Kêu gọi trách nhiệm đối với giáo dục gia đình của các ông bố và sự hợp tác của các doanh nghiệp.

Biện pháp làm phong phú giáo dục gia đình

– Làm phong phú cơ hội học tập liên quan đến giáo dục gia đình (Ví dụ như cung cấp cơ hội học tập sử dụng các phương tiện truyền thông mới)

– Xúc tiến xây dựng mạng lưới trợ giúp giáo dục trẻ trong phạm vi sinh hoạt thường ngày.

– Làm phong phú các cơ hội trải nghiệm chung giữa bố mẹ và con cái (ví dụ hoạt động tình nguyện)

– Giúp đỡ, khuyến khích sự tham gia của người bố vào giáo dục gia đình (Cung cấp cơ hội học tập về giáo dục gia đình ở nơi làm việc)

PHẦN 3. GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIẾN ĐỔI CỦA XÃ HỘI NHƯ QUỐC TẾ HÓA, THÔNG TIN HÓA, PHÁT TRIỂN KHOA HỌC KĨ THUẬT

Chương 1. Giáo dục ứng phó với sự biến đổi của xã hội

– Quan điểm cơ bản
+ Coi trọng giáo dục “năng lực sống”
+ Tuyển chọn nghiêm ngặt nội dung giáo dục, triển khai hoạt động giáo dục thong thả.
+ Coi trọng việc hướng dẫn tôn trọng sự cảm động, đặt ra câu hỏi, suy luận ở trẻ em.
+ Tăng cường sự liên kết tương hỗ giữa các môn giáo khoa với giờ đạo đức, hoạt động đặc biệt, triển khai các hoạt động giáo dục với chương trình sáng tạo.
+ Triển khai hoạt động giáo dục theo chiều ngang, có tính chất tổng hợp vượt qua cái khung môn giáo khoa.
Chương 2. Quốc tế hóa và giáo dục

– Làm phong phú giáo dục hiểu biết quốc tế.

+ Giáo dục nên con người có tầm nhìn rộng lớn, có sự hiểu biết về đa văn hóa, có thái độ hợp tác và chung sống với những người có nền văn hóa khác.
+ Làm sâu sắc sự hiểu biết đối với lịch sử và văn hóa truyền thống của nước ta, coi trọng sự xác lập bản thân với tư cách là người Nhật Bản.

+ Xúc tiến giáo dục hiểu biết quốc tế chú trọng sự liên quan giữa các môn giáo khoa với giờ đạo đức, hoạt động đặc biệt và coi trọng học tập theo vấn đề, học tập trải nghiệm.

+ Thực hiện kết nghĩa với các trường ở nước ngoài, thực hiện các hoạt động du học, giao lưu quốc tế, xúc tiến giao lưu quốc tế sử dụng internet.
+ Nâng cao năng lực hướng dẫn của giáo viên bằng cách làm phong phú và đầy đủ việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, mở rộng việc cử giáo viên ra nước ngoài.

– Cải thiện giáo dục ngoại ngữ.

+ Cải thiện giáo dục ngoại ngữ coi trọng giáo dục năng lực giao tiếp như kĩ năng nghe, nói (cải cách chương trình, phương pháp hướng dẫn, nâng cao năng lực giáo viên, cải cách việc tuyển sinh)

+ Đối với giáo dục ngoại ngữ ở trường tiểu học, sẽ không thực hiện theo phương pháp nhất loạt coi nó là môn giáo khoa mà sẽ có gắng sao cho đem lại cho học sinh cơ hội để làm quen với đời sống, văn hóa nước ngoài cũng như các cơ hội tiếp xúc với tiếng Anh tùy theo tình hình thực tế của nhà trường, địa phương trong tư cách là “Thời gian học tập tổng hợp” hay hoạt động đặc biệt. Khi đó, việc nỗ lực sử dụng những người bản ngữ sẽ được kì vọng.

– Cải cách và làm phong phú giáo dục dành cho trẻ em người Nhật sống ở nước ngoài, trẻ em về nước từ nước ngoài và trẻ em người nước ngoài sống tại Nhật.

Chương 3 . Thông tin hóa và giáo dục

– Thực hiện có hệ thống giáo dục thông tin

+ Giáo dục “năng lực thông tin trong xã hội thông tin liên lạc phát triển cao độ”-năng lực và phẩm chất cơ bản phục vụ việc lựa chọn, sử dụng thông tin, thiết bị thông tin và tích cực truyền bá thông tin.

+ Thông qua các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, xúc tiến giáo dục thông tin một cách có hệ thống.
+ Làm phong phú và đầy đủ cơ sở vật chất như máy tính, phần mềm.

– Cải thiện chất lượng giáo dục trường học bằng việc sử dụng mạng lưới thông tin liên lạc.

+ Sử dụng thực sự mạng lưới thông tin liên lạc, tạo ra mạng lưới bao gồm nhiều cơ quan mà trước tiên là trường học, cải thiện, làm phong phú hoạt động giáo dục, nỗ lực sử dụng tích cực nó vào việc học tập của trẻ em ở các vùng xa xôi hay những trẻ em phải điều trị bệnh.

+ Xúc tiến nghiên cứu thực tiễn sử dụng internet hướng tới việc tất cả các trường học được kết nối internet trong tương lai gần.
– Xây dựng “Trường học mới” ứng phó với xã hội thông tin phát liên lạc phát triển cao độ.

+ Nâng cao chức năng, trình độ của toàn thể cơ sở vật chất, thiết bị liên quan tới thông tin, liên lạc của trường học; xây dựng trường học mở, nơi tích cực phát đi thông tin về chính bản thân mình thông qua việc hình thành mạng lưới gắn kết các cơ quan khác nhau.

+ Làm phong phú việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và xúc tiến việc sử dụng các chuyên gia, kĩ sư xử lý thông tin.

+ Xây dựng chương trình xúc tiến tổng hợp liên quan tới truyền thông đa phương tiện trung và dài hạn trong giáo dục.

+ Thu thập thông tin liên quan tới giáo dục, xây dựng cơ sở dữ liệu, xây dựng trung tâm quốc gia về thông tin giáo dục cung cấp cho toàn quốc.

– Vừa chinh phục “mặt trái” của thông tin hóa như sự hời hợt trong mối quan hệ giữa con người với con người, sự thiếu hụt trải nghiệm tự nhiên vừa nỗ lực giáo dục con người có sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn và giáo dục đạo đức thông tin.

Chương 4. Sự phát triển khoa học kĩ thuật và giáo dục

– Cải cách giáo dục liên quan đến giáo dục tố chất khoa học.
+ Coi trọng tư tưởng tự do của trẻ em, thông qua trải nghiệm “hạnh phúc khi khám phá”, “hạnh phúc khi sáng tạo” của trẻ em mà nâng cao mối quan tâm, hứng thú đối với khoa học, giáo dục các tố chất khoa học phong phú như cách nhìn, cách tư duy khoa học cho trẻ em.

+ Không chỉ là môn khoa học mà vừa phải chú ý tới mối quan hệ với các môn học khác vừa xúc tiến hướng dẫn về mối quan hệ giữa khoa học với con người và tự nhiên.

+ Làm phong phú hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, nâng cao năng lực hướng dẫn của giáo viên, sử dụng những người trưởng thành trong xã hội như các nhà nghiên cứu, các nhà kĩ thuật…

+ Xây dựng môi trường học tập như xây dựng nên các cơ sở quan sát, thí nghiệm, các “trung tâm học tập khoa học”.

+ Cải cách chế độ thi tuyển để có thể đánh giá thích hợp cách nhìn, tư duy khoa học.

– Cung cấp các cơ hội học tập phong phú cho xã hội địa phương
+ Xây dựng các bảo tàng khoa học cho phép trẻ em có thể có được các trải nghiệm thông qua 5 giác quan, có thể tiếp xúc trực tiếp với vật thật.

+ Tổ chức các seminar và cung cấp các cơ hội tham quan học tập các đại học, doanh nghiệp để trẻ em có thể tiếp xúc với sự thú vị và hấp dẫn của khoa học.

+ Xây dựng thể chế cung cấp thông tin về các cơ hội học tập phong phú.

Chương 5. Vấn đề môi trường và giáo dục

– Cải thiện, làm phong phú giáo dục môi trường
+ Xúc tiến giáo dục môi trường dựa trên quan điểm như “học hỏi từ môi trường”, “học tập về môi trường”, “học tập vì môi trường”.

+Xúc tiến giáo dục môi trường nhắm đến mối liên quan giữa các môn giáo khoa, giờ đạo đức và hoạt động đặc biệt; coi trọng học tập trải nghiệm.

+ Giáo dục trái tim coi trọng tự nhiên và môi trường, giáo dục thái độ, phẩm chất, năng lực thực tiễn hành động một cách chủ thể nhằm bảo vệ môi trường và tạo ra môi trường tốt hơn.

+ Làm phong phú việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, nâng cao năng lực hướng dẫn của giáo viên, sử dụng những người trưởng thành có liên quan đến công việc bảo vệ thiên nhiên.

– Cung cấp cơ hội học tập phong phú cho xã hội địa phương.
+ Làm phong phú các cơ hội làm quen với tự nhiên như quan sát tự nhiên và hoạt động dã ngoại.

+ Làm phong phú cơ hội học tập trải nghiệm phong phú như tổ chức lớp học về môi trường ở các nhà thiên nhiên dành cho thiếu niên.

+ Đại học, doanh nghiệp cung cấp các cơ hội học tập về các vấn đề môi trường

+ Xây dựng thể chế cung cấp thông tin về các cơ hội học tập phong phú.

+ Khuyến khích các hoạt động tình nguyện giải quyết vấn đề môi trường từ những việc gần gũi quanh mình mà mỗi người có thể làm.

Những vấn đề cần nghiên cứu từ giờ về sau.

Sau khi công bố bản Báo cáo thứ nhất, cần tiếp tục nghiên cứu về phương thức hiện tồn của giáo dục ứng phó với sự biến đổi của xã hội như quốc tế hóa, thông tin hóa, khoa học kĩ thuật phát triển, đồng thời triển khai xem xét “cải thiện sự tiếp xúc giữa giáo dục và trường học ứng phó thích hợp với năng lực của từng người” bao gồm cải cách giáo dục đại học, trung học phổ thông, cải cách chế độ tuyển sinh vào trung học phổ thông, đại học…

Nguyễn Quốc Vương dịch

 


Cũ hơn Mới hơn