Cách nhìn kinh tế, tư duy kinh tế


Ý nghĩa của “Kinh tế”

Tại sao khủng hoảng vẫn tiếp tục, nguyên nhân sự biến động tỉ giá ngoại tệ là gì, chúng có tác động như thế nào đến lợi nhuận của các doanh nghiệp và  giá cả-tất cả những câu hỏi trên đều là các câu hỏi về “kinh tế”. Trong môn Xã hội ý nghĩa của “kinh tế” trong trường hợp “cái nhìn kinh tế, tư duy kinh tế” cũng gần như là đồng dạng. Tuy nhiên, để định nghĩa “cách nhìn kinh tế, tư duy kinh tế” thì cần phải làm rõ đồng thời ngữ nghĩa của “kinh tế” và  ý nghĩa của “cách nhìn kinh tế, tư duy kinh tế”.

Về ngữ nghĩa của “kinh tế”, trong dòng chảy của kinh tế học tồn tại hai tư duy.

Thứ nhất,  là định nghĩa kiểu chủ nghĩa vật chất về kinh tế khi cho nó là thứ chỉ mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, sự trao đổi trong xã hội nhằm làm phong phú và đầy đủ nhu cầu vật chất của con người. Đây còn được gọi là định nghĩa thực thể.

Thứ hai, là định  nghĩa mang tính chất hình thành-nó là thứ lấy đối tượng là sự phân bố và lựa chọn các biện pháp thiểu số nhằm thực hiện mục đích. Kinh tế theo nghĩa thứ nhất tiếp cận các hiện tượng kinh tế ở nghĩa rộng với mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên. Kinh tế ở nghĩa thứ hai lấy đối tượng là hệ thống kinh tế với thị trường làm trung tâm. Đại diện cho kinh tế ở nghĩa thứ nhất là kinh tế học Mác-xít và đại diện cho kinh tế ở nghĩa thứ hai là phương pháp của trường phái kinh tế học cổ điển.

Sự thuyết minh từ giờ về sau chủ yếu được xét trên góc độ kinh tế học cổ điển.

 

Cách nhìn kinh tế, tư duy kinh tế là gì?

Cách nhìn kinh tế, tư duy kinh tế trước hết là việc tìm ra các yếu tố cấu thành nên tổng thể kinh tế và mối quan hệ tồn tại tương hỗ giữa các lĩnh vực kinh tế, chủ thể kinh tế. Ví dụ như  việc tiền gửi vào ngân hàng sau đó được cho mượn và đầu tư như thế nào, số tiền dùng để mua hàng qua tay cửa hàng sau đó sẽ được trao vào tay ai…có liên quan đến nhận thức mối quan hệ tồn tại tương hỗ.

Tiếp theo, việc phân chia “cách nhìn” và “tư duy” một cách chặt chẽ là bất khả và không mang lại nhiều ý nghĩa. Nhưng  nếu như chỉ thấy rằng giá cả tăng lên thì điều đó không thể nào trở thành cách nhìn kinh tế được. Ít nhân cần phải thiết lập được các nguyên nhân và điều kiện  liên quan tới sự gia tăng giá cả sử dụng các thuật ngữ như nhu cầu, cung cấp… Tóm lại, cách nhìn kinh tế là việc lấy ra các hiện tượng kinh tế trong các hiện tượng xã hội và thiết lập các điều kiện để giải thích chúng.

Trái lại “tư duy” có ý nghĩa chỉ việc thiết lập các biến số nhất định của hiện tượng kinh tế,  liên kết các thuật ngữ kinh thế, các tham số giữa các khái niệm để thuyết minh, giải thích.

 

Cách nhìn, tư duy kinh tế trong môn Xã hội

 

Trong bản Hướng dẫn học tập, “cách nhìn, tư duy kinh tế” được ghi từ bản sửa đổi năm 1977 trở đi. Trong phần “nội dung” của lĩnh vực công dân thuộc môn Xã hội cấp THCS có ghi về cách nhìn, tư duy kinh tế như sau: “ giáo dục nền tảng cách nhìn, tư duy kinh tế, chính trị”. Trong phần ghi chép này,  bản hướng dẫn học tập chỉ ghi chép vắn tắt và “cách nhìn, tư duy kinh tế” khong trở thành học tập chủ yếu.

Về sau trong bản năm 1998-1999, ở mục liên quan đến kinh tế có tên “kinh tế-chính trị” thuộc môn Công dân THPT, có ghi : “ làm cho học sinh có cách nhìn và tư duy cơ bản về kinh tế”. Ở đây cách nhìn, tư duy kinh tế khác với môn Xã hội ở THCS đã có ý nghĩa tích cực hơn.

Tuy nhiên không phải khi nào cách nhìn và tư duy kinh tế cũng chỉ được học trong lĩnh vực Công dân hay môn Công dân. Ví dụ như  việc làm cho học sinh nhận ra  lưu thông hàng hóa và sự khác biệt về giá cả của hàng hóa tùy theo từng cửa hàng trong học tập về “đặc trưng của công việc nhìn thấy từ việc sản xuất và bán hàng của người dân địa phương” được tiến hành ở lớp 3 tiểu học cũng có thể coi là điểm xuất phát của cái nhìn kinh tế, tư duy kinh tế. Thêm nữa, ở lớp 5 khi học tập về “động thái mậu dịch và vận tải nâng đỡ sản xuất công nghiệp”, việc lý giải ý nghĩa của mối liên hệ kinh tế cũng có thể coi  là sự lý giải  về sự tồn tại tương hỗ của kinh tế.

Tiếp theo, trong học tập lịch sử cách nhìn, tư duy kinh tế cũng có ý nghĩa quan trọng. Ví dụ như trong trường hợp học về sự gia tăng giá cả sau khi mở cửa đất nước vào cuối thời Mạc phủ, việc suy ngẫm về bối cảnh và điều kiện chính là tư duy kinh tế. Trong học tập địa lý khi thuyết minh về bối cảnh các thay đổi của địa phương và các khu vực có liên quan, việc thiết lập các điều kiện kinh tế là không thể thiếu.

Môn Xã hội và học tập kinh tế.

Ý nghĩa của học tập kinh tế trong môn Xã hội nằm ở việc tìm ra các hiện tượng có liên quan đến kinh tế trong các hiện tượng xã hội và làm cho học sinh có năng lực giải thích chúng một cách lô-gic. Đó là việc nâng cao tính khoa học trong nhận thức xã hội-một trong những vai trò của môn Xã hội.

Mặt khác, mối liên quan giữa phẩm chất công dân và học tập kinh tế được giải thích như sau. Để trở thành người làm chủ cuộc sống xã hội thì cần phải tiến hành sự lựa chọn hợp lý trong các tình huống đa dạng. Ví dụ như đối với đối sách môi trường hay giao thông thì cần tới sử dụng thủ pháp cơ cấu giá cả và biệc biết đến tư duy đằng sau nó là điều kiện cần thiết để công dân tiến hành lý giải và quyết định. Tức là, học tập kinh teess  có liên quan đến ý chí quyết định mang tính xã hội của công dân hướng đến xã hội tốt đẹp hơn.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)