Cách nhìn địa lý – cách tư duy địa lý

1. Bản hướng dẫn học tập và cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý

Cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý được nêu ra trong mục tiêu của giáo dục địa lý bắt đầu từ bản Hướng dẫn học tập năm 1969. Ban đầu, cụm từ này được ghi rõ trong mục tiêu của lĩnh vực địa lý THCS nhưng từ  bản năm 1989 thì nó được ghi rõ trong mục tiêu của môn địa lý THPT và trong bản năm 1998-1999 nó được phản ánh cụ thể không chỉ ở trong mục tiêu mà cả ở trong nội dung của hai cấp THCS và THPT.

Trong Bản hướng dẫn học tập, phần quan trọng nhất từ quan điểm nói trên là “mục tiêu”. Tuy nhiên, hiệu lực đối với  việc hướng dẫn học tập trong thực tiễn rất hời hợt. Trong 30 năm đã qua (đối với cấp THPT là 10 năm) mặc dù nói đến tầm quan trọng của cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý nhưng vẫn tồn tại khó khăn vì vừa phải đảm bảo nó vừa tiến hành chỉ đạo ôn thi, và khó có thể cụ thể hóa ở giờ học thực tế. Ngược lại, “nội dung” lại có hiệu quả trực tiếp đối với việc biên soạn sách giáo khoa. Từ giờ về sau, các câu hỏi thi cử được tạo ra với tư cách là tài liệu tối đa được tạo nên từ sách giáo khoa cũng cần phải lột xác để thử nghiệm cả cách nhìn địa lý- cách tư duy địa lý.

Lý do bản Hướng dẫn học tập coi trọng cách nhìn địa lý- cách tư duy địa lý không hề đơn giản. Tuy nhiên, có thể nói rằng nó có liên quan mật thiết với việc hi vọng giáo dục nên học lực mới bao gồm năng lực tư duy, năng lực phê phán, năng lực biểu hiện. Thêm nữa, từ quan điểm về xã hội học tập suốt đời, quan điểm về sự biến đổi mau chóng của xã hội thì việc giáo dục cách nhìn- cách tư duy về bản chất của sự vật chứ không phải là sự la liệt của tri thức trên thực tế  đã được trông đợi.

 

2. Cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý là gì?

 

Không có định nghĩa rõ ràng về cách nhìn địa lý- cách tư duy địa lý. Cả cụm từ “địa lý” cũng như địa hình, cự ly, vị trí, bản đồ, địa cầu… cũng được sử dụng rất đa dạng tùy theo người dùng và các trường hợp cụ thể. Ở điểm này thì bản Hướng dẫn học tập của bộ giáo dục cũng công nhận sự không hoàn bị và rõ ràng khi giải thích về cách nhìn địa lý- cách tư duy địa lý.

 

Trong khoảng thời gian này  ở Mĩ cũng diễn ra cuộc cải cách về giáo dục địa lý và ở đó dưới hình thức là “5 chủ đề lớn của địa lý học”, cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý đã được giải thích rõ ràng hơn. Hạt nhân của nó là việc chỉ đạo học sinh về 5 chủ đề chủ yếu mà địa lý học tìm kiếm là “vị trí” (Location), địa điểm” (place), “môi trường gần gũi” (relationships within places), “sự di chuyển” (movement), “khu vực” (regions) một cách dễ hiểu. Phong trào phục hưng giáo dục địa lý này cuối cùng đã đi đến kết quả là tạo ra  sự  phát triển giáo tài mạnh mẽ có yếu tố tác nghiệp gọi là “ARGUS” (Activities and Readings in the Geography of the United States).

 

Cách nhìn địa lý khi trực dịch sẽ thành “point of view”, nhưng cách nhìn không phải đơn giản chỉ là “nhìn”. Nó còn nên được dịch là “perspective”(tầm nhìn) nữa và nó là tầm nhìn chỉ đạo cách nhìn- cách tư duy địa lý  nhờ đó học sinh tiến hành khảo sát các mối quan hệ, có được nhận thức thế giới của riêng mình, hình thành nên sự tự giác và phẩm chất với tư cách là con người quốc tế.

 

Cách nhìn địa lý- cách tư duy địa lý là việc lấy ra các hiện tượng phong phú đang xảy ra ở thế giới hiện đại trong sự mở rộng không gian,  tổng động viên kiến thực đã có để suy đoán, giải thích tại sao lại có những hiện tượng đó. Ở đó không phải chỉ cần tới công cụ bản đồ mà còn cần đến tiền đề là một lượng tri thức nhất định. Ở đó, việc lặp đi lặp lại câu hỏi “tại sao?” và tự trả lời là điều quan trọng nhất.

 

3. Phương pháp chỉ đạo cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý.

 

Việc đưa ra định nghĩa rõ ràng, đơn giản về cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý gần như là bất khả. Thay vào đó việc suy nghĩ về chế tạo giáo tài tác nghiệp thực tế, phương pháp chỉ đạo cụ thể trong thực tiễn giáo dục đem lại nhiều lợi ích hơn.

 

Hình bên dưới là hình biểu thị quá trình chỉ đạo cơ bản. Việc tiến hành  học tập một cách công phu theo thứ tự AàBàC hay sự làm sâu sắc hóa sự khảo sát với các giáo tài được chế tạo là điều quan trọng. Trong đó, câu hỏi “tại sao” sẽ được giáo viên đưa ra có mục đích nhưng cuối cùng thì sự giải thích, suy luận một cách thuyết phục mà học sinh có được là điều cốt tử.

 

4. Cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý và kĩ năng địa lý.

 

Khi suy nghĩ về phương pháp chỉ đạo cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý thì điều không thể quên là sự tồn tại của kĩ năng địa lý. Giáo dục kĩ năng (skill) vốn bị coi nhẹ ở trường học Nhật Bản trước kia nhưng gần đây có xu hướng coi trọng nhờ vào tinh tuyển nội dung giáo dục và quan điểm xã hội học tập suốt đời. Đặc biệt địa lý lại khác với lịch sử và công dân là từ cách dùng bản đồ tới thu thập thông tin qua quan sát dã ngoại, điều tra dã ngoại sẽ trải qua quá trình tích lũy việc biết làm như thế nào. Trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998-1999 chỉ có môn Địa lý có ghi “trang bị cho học sinh kĩ năng địa lý” có lẽ là vì lý do đó.

 

Kĩ năng địa lý là thứ ứng với vị trí phương pháp luận của cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý và cả hai có mối quan hệ bao trùm “cách nhìn-cách tư duy và kĩ năng”. Trong sơ đồ quan hệ nói trên, vấn đề kĩ năng không được cân nhắc nhưng trong việc giáo dục cách nhìn địa lý-cách tư duy địa lý thì việc xây dựng kế hoạch hàng năm có đưa vào nội dung huấn luyện các kĩ năng địa lý là vấn đề đang đặt ra.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)