Bản báo cáo của Sứ đoàn giáo dục Mĩ về giáo dục Nhật Bản (31/3/1946)

Lời người dịch: Sau khi Thiên hoàng tuyên bố đầu hàng (15/8/1945), Nhật Bản bị quân Đồng minh chiếm đóng. Dưới sự giám sát và tư vấn của Bộ tư lệnh  tối cao quân đồng minh, Nhật Bản đã tiến hành cải cách chính trị-xã hội-giáo dục toàn diện nhằm dân chủ hóa đất nước. Công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến ở Nhật Bản có sự đóng góp to lớn của Sứ đoàn giáo dục Mĩ  đến Nhật vào tháng 3 năm 1946 (sứ đoàn lần 1). Bản báo cáo do Sứ đoàn giáo dục Mĩ đưa ra đã có ảnh hưởng lớn tới phương châm, đường lối cũng như cách thức thực hiện  cải cách giáo dục trong thực tiễn của Nhật Bản, góp phần tạo nên nước Nhật “hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người”. Dưới đây làbản dịch phần tóm tắt bản báo cáo này được công bố trên website của Bộ giáo dục Nhật Bản.

Sứ đoàn giáo dục Mĩ do George D. Stoddard làm trưởng đoàn đã có mặt ở Nhật Bản trong thời gian một tháng để biên soạn nên bản báo cáo trên. Trong thời gian đó sứ đoàn đã tiếp xúc và thảo luận với các sĩ quan của Ban giáo dục trong Cục thông tin giáo dục dân sự thuộc Bộ tư lệnh tối cao quân Đồng minh, các ủy viên ủy ban giáo dục của phía Nhật Bản do Bộ giáo dục chỉ định, các đại biểu thuộc mọi lĩnh vực và đại diện các trường học ở Nhật Bản.

Bản báo cáo được tạo ra trên cơ sở thảo luận giữa các thành viên của sứ đoàn và sau đó được trình lên Tổng tư lệnh tối cao Bộ tổng tư lệnh. Sứ đoàn mặc dù thừa nhận sự cần thiết của những mệnh lệnh cấm đoán ban đầu như loại bỏ khỏi trường học những gì liên quan đến chủ nghĩa đế quốc và thần đạo mang tính chủ nghĩa quốc gia nhưng bản báo cáo lần này đặt trọng tâm  vào việc đưa ra đề án tích cực.

Đây là kết quả của việc người Nhật Bản nỗ lực hợp tác tạo ra những điều kiện cần thiết để tái xây dựng một chế độ giáo dục lành mạnh trong nền văn hóa của riêng mình theo kế hoạch của sứ đoàn.

Chế độ giáo dục với mục đích giáo dục và nội dung giáo dục ở Nhật Bản  vốn bị trung ương tập quyền hóa cao độ trước đó cho dù không bị hút vào chủ nghĩa quốc gia cực đoan và chủ nghĩa quân phiệt đi chăng nữa thì cũng có khả năng tạo ra những tác hại lớn với chế độ chính trị quan liêu ngoan cố.

Để từng người giáo viên phát triển được năng lực của mình dưới sự chỉ đạo thích hợp thay vì bị dồn ép một chiều thì việc phân quyền cho địa phương là cần thiết. Theo như bản báo cáo này thì chỉ khi giáo viên tạo nên những quốc dân Nhật Bản tự do khi đó họ mới có khả năng phát huy được vai trò. Để đạt được mục đích này không thể chỉ cần đến những tri thức tổng quát thu nhận từ một cuốn sách giáo khoa hay sách tham khảo được nhà nước công nhận hay những tri thức chiều sâu được thử thách trong các kì thi theo hình thức định sẵn. Chương trình không phải chỉ là một dạng tri thức được thừa nhận một cách đơn giản mà phải là thứ được cấu tạo từ cả các hoạt động tinh thần và thể chất của người học. Nó phải là thứ có cân nhắc tới sự khác nhau về trải nghiệm học tập và năng lực của từng học sinh. Vì vậy nó phải là thứ được tạo ra từ hoạt động hợp tác của nhiều người bao gồm cả giáo viên, sử dụng các trải nghiệm của học sinh và phát huy được năng lực sáng tạo đó.

Giáo dục Nhật Bản cần phải  có địa vị độc lập, việc tu thân trước kia vốn  hướng đến sự phục tùng giờ đây phải  được giải phóng và diễn ra ở từng lĩnh vực đời sống quốc dân tự do. Các phương pháp lễ nghi thúc đẩy bình đẳng, tinh thần dung hòa của chính trị dân chủ và tinh thần kĩ thuật lý tưởng trong đời sống thường ngày chính là tu thân của mọi người theo nghĩa rộng. Chúng cần phải được phát triển và thực hành  trong lòng các hoạt động cũng như kế hoạch của các loại trường học dân chủ. Sách giáo khoa môn Địa lý và Lịch sử cần phải công nhận các thần thoại là thần thoại và cần phải viết lại sao cho sự kiến giải chúng trong sách giáo khoa và sách tham khảo mang tính khách quan hơn trước đó. Đối với các trường tiểu học và trung học cần phải sử dụng các tư liệu địa phương nhiều hơn, ở các trường đại học cần phải hỗ trợ bằng nhiều phương pháp khác nhau đối với các nghiên cứu ưu tú.

Giáo dục vệ sinh-sức khỏe và giáo dục thể chất là nền tảng của toàn bộ giáo dục. Giáo dục thể chất, giáo dục vệ sinh công cộng, dinh dưỡng, kiểm tra thân thể và kế hoạch giải trí cần phải được kéo dài tới các trường đại học, thêm nữa cần phải chỉnh sửa, tu bổ cơ sở vật chất nhanh nhất có thể. Giáo dục nghề nghiệp được nhấn mạnh ở các trường học với nhiều cấp độ tiêu chuẩn. Các trải nghiệm nghề nghiệp nên được diễn ra dưới sự chỉ đạo của giáo viên được đào tạo tốt đồng thời cần phải đặt trong tâm vào kĩ thuật và lý luận cơ cở cũng như công nghệ. Đối với kĩ thuật và thù lao của người lao động cần phải được tính toán trong chương trình nghiên cứu xã hội và tạo ra các cơ hội phát huy tính sáng tạo.

Cải cách quốc tự-quốc ngữ

Cải cách quốc ngữ-quốc tự là nội dung cơ bản đối với sự thay đổi trên tất cả các phương diện thực thi giáo dục. Cho dù hình thức quốc ngữ thay đổi nhưng nó phải là sự thay đổi từ trong lòng quốc dân. Sự thay đổi quá khích nếu như đột ngột tạo ra sẽ không có hiệu quả. Đối với những người công nhận giá trị to lớn của cải cách quốc ngữ không phải đơn giản vì kế hoạch giáo dục mà vì sự phát triển của con em Nhật Bản trong tương lai thì sự khích lệ có hiệu quả lớn. Tiếp theo bản báo cáo đưa ra khuyến nghị sử dụng rộng rãi chữ La tinh dưới hình thức  nhất định.

Để đưa ra kế hoạch tổng hợp về quốc ngữ trong khoảng thời gian thích hợp, Ủy ban quốc ngữ với thành viên là các học giả, nhà lãnh đạo giáo dục, chính trị gia người Nhật cần phải đưa ra đề án cấp tốc. Ủy ban này cần phải quyết định xem có sử dụng chữ La tinh dưới hình thức nào đó hay không sau đó là tiến hành các công việc sau:

(1) Có trách nhiệm điều chỉnh kế hoạch cải cách quốc ngữ trong thời kì quá độ.

(2) Xây dựng kế hoạch sử dụng chữ La tinh trong đời sống quốc dân cũng như đời sống xã hội, trường học nói chung thông qua báo, tạp chí, sách và các văn hóa phẩm khác.

(3) Nghiên cứu phương sách nhằm dân chủ hóa hình thức khẩu ngữ.

 

Những ủy ban có liên quan có khả năng phát triển dần thành cơ quan thẩm định quốc ngữ. Xét ở việc công nhận sự cần thiết của phương pháp truyền đạt đơn giản và hiệu quả bằng chữ viết, cơ hội tiến hành biện pháp quan trọng này sẽ khó có thể đến lần nữa trong tương lai. Ngôn ngữ là con đường giao thông chứ không thể là bức tường. Con đường giao thông này do được xúc tiến bởi sự hiểu biết tương tác của cộng đồng quốc tế nên nó phải mở ra bên ngoài vượt qua biên giới quốc gia để truyền đi tư tưởng và tri thức.

Về hành chính giáo dục của trường tiểu học và trung học

 

Do mục đích dân chủ hóa giáo dục mà nguyên lý quản lý trường học phân quyền cho các địa phương thay vì trung ương tập quyền được mọi người công nhận. Việc đọc to các sắc chỉ hay tiến hành nghi lễ vái lạy ảnh Thiên hoàng không phải là thứ mong muốn. Bộ giáo dục theo đề án của Sứ đoàn sẽ trở thành cơ quan đảm nhận nhiệm vụ quan trọng là trợ giúp kĩ thuật và tư vấn chuyên môn cho trường học. Tuy nhiên, quyền lực chi phối trực tiếp của bộ đối với các trường học ở địa phương sẽ bị cắt giảm.

 

Để giúp cho người dân ở các thành phố, làng ở các tỉnh tham gia rộng rãi vào hành chính giáo dục và loại trừ hành chính quản lý của các viên chức địa phương và bộ nội vụ, cần phải lập ra cơ quan hành chính giáo dục được tạo nên từ phổ thông đầu phiếu ở các thành phố, tỉnh, thôn làng. Hiện nay quyền hạn liên quan đều nằm trong tay Bộ giáo dục ở trung ương.

Tiến hành chế độ nam nữ cùng học, miễn học phí cho giáo dục nghĩa vụ, nâng giáo dục nghĩa vụ lên 9 năm, nói cách khác là học sinh phải đi học đến khi 16 tuổi. Bên cạnh đó học sinh trong 6 năm đầu sẽ học ở trường tiểu học giống nhau, ba năm tiếp theo  sau khi tốt nghiệp sẽ vào học ở trường “trung học”-loại trường học sẽ được thay đổi, sáp nhập. Trong các trường học này, giáo dục nói chung bao gồm chỉ đạo giáo dục và nghề nghiệp đối với toàn thể học sinh sẽ được tiến hành và cần phải chú ý cân nhắc tới sự khác biệt trong năng lực của từng học sinh đảm bảo tính mềm dẻo.  Thêm nữa, cần lập ra trường “Trung học phổ thông”, thực hiện miễn học phí, tiến hành dần dần việc nam nữ cùng học và cần tạo ra cơ hội học tập cho tất cả những học sinh đã tốt nghiệp trường trung học cơ sở mong muốn được học lên.

Cùng với các trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông sẽ tiếp tục chức năng của các trường học khác tồn tại được nhờ thuế như tiểu học-khoa bậc cao, trường nữ sinh bậc cao, trường thực nghiệp, trường thanh niên. Những học sinh tốt nghiệp trường trung học phổ thông sẽ có điều kiện để học lên cao. Theo như đề án này, các trường tư thục đương nhiên phải có các điều kiện tiêu chuẩn tối thiểu để học sinh không phân biệt công lập hay tư thục có thể chuyển trường qua lại dễ dàng nhưng các trường này cũng được đảm bảo hoàn toàn tự do.

Về phương pháp giáo dục và đào tạo giáo viên

Để đạt được mục đích của nền giáo dục mới thì cần cải cách phương pháp giáo dục  vốn đặt trọng tâm vào việc tạo ra lòng kính phục, trung thành với người trên với chủ nghĩa nhồi nhét một chiều. Phương pháp giáo dục mới phải là thứ phát huy quyền lợi và trách nhiệm trong tư cách là quốc dân dân chủ và phát triển cá tính, sự độc lập trong tư duy của mỗi người. Ví dụ như, phương pháp tu thân không nên là thứ tiến hành qua giáo huấn bằng lời mà phải được tiến hành thông qua giáo huấn đạt được từ trải nghiệm qua các tình huống thực tế ở trường học và xã hội. Kế hoạch tái giáo dục giáo viên trong thời kì quá độ  cần phải được xây dựng và sử dụng phương pháp dân chủ. Đây là đề án nhằm tạo ra kế hoạch phát triển giáo dục tại chức cho giáo viên. Trường sư phạm cần phải được cải cách để đào tạo nên các loại giáo viên cần thiết. Trường sư phạm chỉ nên cho phép nhập học những học sinh hoàn thành toàn bộ khóa trình của các trường trung học phổ thông và trường tương đương, đình chỉ ngay chế độ khoa dự bị trong trường sư phạm. Trường sư phạm bậc cao có cùng tiêu chuẩn do vậy nên chuyển thành trường sư phạm được tái tổ chức thành trường 4 năm. Trong trường học này, giáo dục nói chung được tiếp tục và người học được tiếp nhận giáo dục sư phạm đầy đủ phù hợp với nghề giáo trong tương lai. Các cơ quan đào tạo giáo viên, cấp giấy phép hành nghề giáo viên khác không kể công tư phải tiến hành đầy đủ đào tạo giáo viên ở cấp độ tương đương.

Quan chức hành chính giáo dục và quan chức quản lý giáo dục phải tiếp nhận giáo dục sư phạm giống như giáo viên thêm nữa cần phải được tiếp nhận giáo dục với tiêu chuẩn phù hợp với nhiệm vụ được giao phó. Các cơ quan giáo dục bậc cao và đại học  cần phải tăng cường cơ sở thiết bị đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu của giáo viên và các nhân viên liên quan được tiến triển. Tại các trường học này cần đưa ra thành quả của việc hỗ trợ nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục.

Giáo dục người trưởng thành

Trong bối cảnh quốc dân Nhật Bản đang ở cục diện như bây giờ, giáo dục người trưởng thành có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vì quốc gia dân chủ là quốc gia phát huy trách nhiệm lớn lao của từng người dân.

Trường học chỉ là một trong những cơ quan tiến hành giáo dục người trưởng thành vì vậy thông qua hoạt động phối hợp thống nhất giữa cha mẹ và thầy cô và các buổi học đêm, những bài giảng công khai, sự giải phóng trường sở với các hoạt động xã hội mà giáo dục người trường thành được xúc tiến.

Một trong những cơ quan giáo dục người trưởng thành quan trọng là thư viện công. Nên xây dựng thật nhiều các thư viện công lập trung ương ở các đô thị lớn và chi nhánh của nó. Cũng cần xây dựng tiêu chuẩn cho các cơ sở thư viện thích hợp ở các đô, đạo, phủ, tỉnh. Để xúc tiến kế hoạch này, Bộ giáo dục cần chỉ định Cục trưởng Cục thư viện công lập. Các bảo tàng khoa học, công nghệ, sản xuất cùng với thư viện cũng có ích cho mục đích giáo dục. Cùng với chúng, các tổ chức đoàn thể nhiều chủng loại như đoàn thể xã hội, đoàn thể chuyên môn, công đoàn lao động, đoàn thể chính trị cần tiến hành hỗ trợ giáo dục người trưởng thành bằng cách sử dụng hiệu quả các buổi thảo luận hay bài giảng. Để thực hiện được mục đích này, Bộ giáo dục cần tích cực trong công việc “giáo dục người trưởng thành” và cần phải có kế hoạch dân chủ hóa nó.

 

Giáo dục bậc cao

Trào lưu tư tưởng dân chủ tự do của Nhật Bản được hình thành chủ yếu bởi nam nữ tiếp nhận giáo dục đại học-cao đẳng trong khoảng thời gian vài năm từ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Giáo dục đại học giờ đây phải  là nơi thể hiện được sự mô phạm  và hành động ấp ủ niềm hi vọng của quốc dân cũng như tái tìm kiếm tư tưởng tự do. Để đạt được mục đích này, giáo dục đại học phải là nơi dành cho đa số chứ không phải chỉ là đặc quyền của thiểu số. Để gia tăng cơ hội giáo dục chủ nghĩa tự do ở các trường học thuộc giáo dục bậc cao thì cần phải tự do hóa với mức độ tương đương chương trình giáo dục của các trường đẳng hoặc trường dự bị đại học, nhờ đó mà giáo dục sẽ đến được với mọi người ở phạm vi rộng. Người học sẽ tiếp nhận tư tưởng này thông qua nghiên cứu ở đại học và đào tạo chuyên môn nhưng nó sẽ trở nên đầy đủ hơn  nữa thông qua sự đào tạo mang tầm quan trọng có tính xã hội và văn hóa ở phạm vi rộng lớn.

Đề xuất tăng cường số lượng trường chuyên môn, bên cạnh đó xây dựng thêm các trường đại học dựa trên kế hoạch thích hợp. Việc xây dựng các cơ quan giáo dục bậc cao và giám sát các điều kiện quy định trước đó đã trình bày là trách nhiệm của các cơ quan chính phủ. Trước khi cho phép mở trường các cơ quan chính phủ  được trao quyền  thẩm tra tư cách của các cơ quan giáo dục bậc cao đăng kí, xem xét xem có đảm bảo điều kiện thứ nhất đã trình bày ở trên. Các cơ quan giáo dục bậc cao này, để đạt được mục đích đó bằng phương pháp mình cho là tối ưu nhất cần phải đảm bảo tự do an toàn ở tất cả các điểm.

Sự xác lập tự do học thuật ở các cơ quan giáo dục bậc cao là điều vô cùng quan trọng. Để đạt được mục đích này chúng tôi khuyến cáo đình chế chế độ quan chức văn hóa.

Đối với sinh viên, tự do được bảo đảm là tự do tiến hành các nghiên cứu ở các cấp độ tiêu chuẩn phù hợp với tài năng. Đối với những người có năng lực nhưng không tiến hành nghiên cứu được do vấn đề tài chính thì cần phải hỗ trợ về tài chính để đảm bảo nghiên cứu đó được tiếp tục. Đối với các học sinh nữ hiện tại đáp ứng đủ tiêu chuẩn thì ngay lập tức phải có được tự do học tiếp lên giáo dục bậc cao. Đồng thời cần phải tiến hành biện pháp cải thiện giáo dục tiểu học và trung học dành cho nữ giới.

Bản báo cáo khuyến cáo nên tăng cường thêm các thư viện và cơ sở nghiên cứu. Các cơ quan liên quan sẽ đem lại lợi ích cho quốc dân ở cả trong thời kì tái kiến thiết quốc gia và ở cả thời kì sau. Cần phải chú ý đặc biệt tới việc  cải cách y tế, hành chính trường học, báo chí, quan hệ lao động và giáo dục chuyên môn ở từng lĩnh vực của hành chính quốc gia nói chung. Cần lập ra Ủy ban đặc biệt nghiên cứu toàn diện về vấn đề vệ sinh công cộng và y tế.

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: website của Bộ giáo dục Nhật Bản