Hiến Pháp Nhật Bản: công cụ giới hạn quyền lực nhà nước, bảo vệ “chủ quyền” và “nhân quyền”


Cuốn sách do Higuchi Yoichi (sinh năm 1934), chủ tịch danh dự Hội nghiên cứu hiến pháp quốc tế biên soạn với tựa đề “Có phải hiến pháp hiện hành đang lạc hậu hay không?” cùng phụ đề đi kèm: “sự biện minh cho chủ quyền và nhân quyền” do Nhà xuất bản Heibon xuất bản gần đây đã gây xôn xao dư luận nước Nhật.

 

Hình minh họa ba nguyên lý của Hiến pháp Nhật Bản. Tòa nhà ở phía sau là hình ảnh tòa nhà quốc hội Nhật

Cải cách hiến pháp – cuộc tranh luận chưa có hồi kết

Tính tới thời điểm hiện tại nước Nhật hiện đại có hai bản hiến pháp: Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản được ban hành dưới thời Minh Trị và Hiến pháp Nhật Bản ban hành sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản được ban bố ngày 11 tháng 2 năm 1889 (năm Minh Trị thứ 22) và có hiệu lực từ ngày 29 tháng 11 cùng năm. Bản hiến pháp này đồng thời cũng được gọi là Hiến pháp Minh trị hay Hiến pháp đế quốc. Hiến pháp này được duy trì tới tận năm 1947 khi hiến pháp mới ra đời. Điều 1 của  Hiến pháp Minh Trị ghi rõ: “Đại đế quốc Nhật Bản được thống trị bởi thiên hoàng vạn thế nhất hệ”. Tức là thiên hoàng với phả hệ thống nhất sẽ vĩnh viễn  cai trị Đại đế quốc Nhật Bản. Liên quan đến quyền lực của thiên hoàng điều 3 hiến pháp quy định: “Thiên hoàng là thần thánh bất khả  xâm phạm”.

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nước Nhật bại trận bị quân đội Mĩ chiếm đóng. Quá trình cải cách toàn diện nhằm xóa bỏ chủ nghĩa quân phiệt,  xây dựng nước Nhật hòa bình, dân chủ bắt đầu. Trong bối cảnh đó, việc soạn thảo bản hiến pháp mới được xúc tiến mạnh mẽ. Bản hiến pháp mới này được công bố ngày 3 tháng 11 năm 1946 (năm Showa thứ 21) và có hiệu lực từ ngày 3 tháng 5 năm 1947.

Bản hiến pháp mới  này về cơ bản  là sự đối lập  với Hiến pháp Minh Trị khi công nhận quyền làm chủ (chủ quyền) của quốc dân và thiên hoàng là biểu tượng của quốc gia. Hiến pháp được xây dựng dựa trên ba nguyên lý nền tảng: hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người. Đặc biệt điều 9 của Hiến pháp quy định Nhật Bản từ bỏ chiến tranh và không cần đến lực lượng hải lục không quân. Chính vì vậy người Nhật quen gọi Hiến pháp Nhật Bản 1947 là Hiến pháp hòa bình. Điều 9 của hiến pháp về sau đã trở thành tâm điểm tranh luận giữa phái đòi sửa đổi hiến pháp (phái cải hiến) và phái đấu tranh bảo vệ hiến pháp (phái hộ hiến). Phái hộ hiến cho rằng Hiến pháp 1947 là hiện đại, nhân văn, phù hợp với nguyện vọng của quốc dân Nhật và xu thế thời đại  nên không cần sửa đổi. Trong khi  đó phái cải hiến đưa ra nhiều lý do  khác nhau đòi sửa đổi hiến pháp. Thứ nhất họ cho rằng bản Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 được biên soạn và ban hành trong hoàn cảnh Nhật Bản bị quân đội Mĩ chiếm đóng và người Mĩ có tham gia vào quy trình soạn thảo hiến pháp nên nó thiếu tính tự chủ, không phù hợp với thực tế xã hội Nhật Bản. Thứ hai họ cho rằng Nhật Bản trong cương vị một nước độc lập có chủ quyền mà không có quân đội được thừa nhận trong hiến pháp là điều bất hợp lý. Hơn nữa trong bối cảnh toàn cầu với vị thế của mình, quân đội Nhật Bản cần phải chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động cứu trợ nhân đạo, gìn giữ hòa bình trên thế giới. Để hoạt động đó diễn ra hợp hiến, hợp pháp và thu được nhân tâm hiến pháp cần phải được sửa đổi. Lý luận này thường được truyền thông và giới nghiên cứu Nhật Bản gọi là lý luận  “cống hiến quốc tế”.

Lý luận “cống hiến quốc tế”  những năm gần đây đã thu hút sự chú mục của dư luận Nhật Bản và trở thành đề tài tranh luận gay gắt trong quốc hội. Quốc hội Nhật Bản cũng đã lập ra Ủy ban điều tra hiến pháp phụ trách nghiên cứu vấn đề sửa đổi hiến pháp. Tuy nhiên làn sóng dư luận phản đối sửa đổi hiến pháp, kiên quyết bảo vệ điều 9 cùng  ba nguyên lý nền tảng của hiến pháp cũng dâng cao trong xã hội với sự tham gia của giới trí thức, học sinh, sinh viên và người lao động. Vấn đề này cũng trở thành chủ đề học tập của học sinh trong trường phổ thông. Học sinh Nhật Bản ngay từ cấp tiểu học đã  sôi nổi bàn luận xem nên sửa đổi hay không sửa đổi hiến pháp.

“Giới hạn quyền lực nhà nước” là mục đích cơ bản  của hiến pháp

Cuốn sách  của nhà nghiên cứu Higuchi Yoichi bắt đầu bằng chi tiết lịch sử liên quan tới Ito Hirobumi, thủ tướng đầu tiên của chính quyền Minh Trị. Ito Hirobumi trong hội nghị họp bàn về  việc ban hành hiến pháp  Minh Trị đã phát biều như sau: “Ban đầu hiến pháp được đặt ra là để: thứ nhất nhằm hạn chế quân quyền, thứ hai là bảo vệ quyền lợi của thần dân”. Những độc giả của Higuchi Yoichi  khi đọc được chi tiết này đã vô cùng choáng váng.  Độc giả choáng váng vì Ito Hirobumi (1841-1909)  vốn là  người được biết tới như là một nhân vật lịch sử  thuộc phe “bảo hoàng”, “sắt máu”. Ito Hirobumi là thủ tướng đầu tiên trong chính quyền Minh Trị được  lập nên sau cuộc Duy tân và bản thân ông ta đã giữ chức thủ tướng nội các tổng cộng đến bốn lần. Ito Hirobumi cũng là  nhân vật đóng vai trò trung tâm trong việc  khởi thảo Hiến pháp Minh Trị (Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản) và can dự trực tiếp vào các cuộc chiến tranh của Đế quốc Nhật Bản như chiến tranh Nhật – Nga (1894-1895), chiến tranh Nhật – Thanh (1904-1905). Ito Hirobumi cũng là người đầu tiên giữ chức vụ cao nhất của cơ quan gọi là Tổng giám phủ Hàn Quốc khi Nhật Bản biến Hàn Quốc thành thuộc địa vào năm 1905. Chính vì vậy, Ito Hirobumi  đã bị  An Trọng Căn, nhà yêu nước người Triều Tiên  ám sát tại Trung Quốc vào ngày 26 tháng 10 năm 1909.

Từ chỗ dẫn ra chi tiết nói trên, Higuchi Yoichi khẳng định nền tảng của chủ nghĩa lập hiến là tư duy cho rằng hiến pháp là công cụ mà  quốc dân sử dụng để  giới hạn quyền lực của nhà nước. Nói cách khác, tư duy này dựa trên nhận thức: bản chất của nhà nước là chuyên chế và xâm lược. Vì vậy cần phải chế ngự nhà nước bằng hiến pháp. Nhà nghiên cứu Higuchi Yoichi cũng dẫn ra một thực tế ẩn chứa nguy cơ: trong thời đại Minh Trị ngay cả các chính trị gia thiết kế nên Đế quốc Nhật Bản cũng tự nhận thức rất rõ chân lý trên nhưng giờ đây ngay cả những người làm việc trong lĩnh vực luật pháp lại đang lãng quên  nguyên lý cơ bản này. Ví dụ như trong  cuộc tranh luận liên quan đến điều 9 của hiến pháp, những người theo phái  cải hiến chủ yếu bàn luận về quyền lợi  quốc gia vì thế họ cho rằng hiến pháp  hiện hành là kì quái. Tuy nhiên nếu nói theo ngôn ngữ của Ito Hirobumi thì mục đích của của điều 9 nhắm tới lại là “giới hạn quyền tiến hành chiến tranh của nhà nước, bảo vệ  quyền sinh sống hòa bình của quốc dân”. Quả thật, vào thời kì mà chủ nghĩa lập hiến  mới bắt đầu thì khái niệm “từ bỏ chiến tranh” là chưa có. Tuy nhiên theo tác giả nếu xét từ nền tảng của chủ nghĩa lập hiến thì đó là sự phát triển đúng đắn và đương nhiên.

Nhà nghiên cứu Higucho Yoichi cho rằng nếu nhìn từ quan điểm hiến pháp là phương tiện quốc dân dùng để hạn chế quyền lực của nhà nước thì hiến pháp hiện hành không hề “lạc hậu” mà trái lại vô cùng hiện đại. Tại mục 1 điều 25 của hiến pháp hiện hành có ghi như sau: “Tất cả quốc dân đều có quyền sống cuộc sống  khỏe mạnh và văn hóa ở mức độ tối thiểu”. Trên tinh thần ấy, những việc như  bỏ mặc người lang thang cơ nhỡ, thất nghiệp là vi hiến. Hành vi đẩy cuộc sống người dân  đối mặt với nguy cơ nhiễm xạ cũng là tội ác. Trong cuốn sách này nhà nghiên cứu Higuchi Yoichi cũng dẫn ra nhiều sự việc trong lịch sử, xã hội Nhật Bản và xem xét, phân tích chúng dưới góc độ tham chiếu hiến pháp. Cuốn sách cũng có đính kèm nguyên văn bản hiến pháp hiện hành cho bạn đọc tham khảo.

Nguyễn Quốc Vương